- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Ngọc H phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổ…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc H; gi nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 134 2019 HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D tỉnh Bình Dương.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2019/HS-PT Ngày: 13-8-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƢƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Quân Vương;
- Các Thẩm phán:
Ông Trần Văn Luông;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 07 và 13 tháng 8 năm 2019 tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương m phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số 124/2019/TLPT-HS ngày 24 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo Võ Ngọc H. Do có kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 134/2019/HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D tỉnh Bình Dương.
- Bị cáo có kháng cáo:
Võ Ngọc H sinh năm 1996 tại tỉnh Hà Tĩnh. Hộ khẩu thường trú: Xóm 00, xã P huyện H tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Võ Văn Th, sinh năm 1952 và bà Phan Thị H sinh năm 1968; có vợ Mai Thị T sinh năm 1993 và có 01 con sinh năm 2018; tiền án tiền sự: Không có; bị tạm gi b t tạm giam ngày 28 11 2018 (có m t).
Trong v án còn có 01 bị hại và 01 người có quyền lợi nghĩa v liên quan nhưng do không có kháng cáo không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm t t như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 20 5 2018 bị cáo Võ Ngọc H và anh Cao Văn M mâu thuẫn cãi nhau trong việc đậu xe ô tô trong bãi xe “Quốc Nghị” địa chỉ khu phố Bình Đường 1 phường An Bình thị xã D tỉnh Bình Dương. H kể mâu thuẫn với anh M cho người tên D, L (không rõ nhân thân) nghe và bàn việc chém anh M trả thù. D là người chém anh M, H và L đứng phía sau hỗ trợ. Khoảng 21 giờ cùng ngày H điều khiển xe mô tô kiểu dáng Sirius không rõ biển số mượn của người tên T1 không rõ nhân thân ch D, L đến bãi xe “Quốc Nghị” chém anh M. Khi đi D cầm theo 02 dao tự chế L cầm theo 01 dao tự chế khi đến D cầm một con dao đưa H một con dao. D cầm dao đến chỗ anh M đang nằm võng chém anh M, anh M tránh né và giật lấy dao từ D, D bỏ chạy đến chỗ H đang đứng gần cổng bãi xe nói “ đã bị lấy mất dao”. H đi đến chỗ đậu xe đầu kéo lấy một dao tự chế dài khoảng 1 2 mét đưa cho D nói “chém anh M” H và L cầm dao đi theo sau hỗ trợ. Khi đến chỗ anh M, D g p anh Đỗ Văn T đang cầm cây gỗ dài khoảng 2 mét đứng trước anh M hỏi D “có chuyện gì” D trả lời “trả lại cây hàng” anh T nói “đã giao nộp cho Công an rồi”. Lúc này H và L đứng cách D khoảng 4 mét D cầm dao tự chế chạy đến chém anh T một nhát vào tay trái, H và L cầm dao xông vào chém thì anh T và M cầm cây chống trả H và L bỏ lại dao tự chế bỏ chạy về phía xe máy hiệu Sirius D cầm theo dao tự chế rồi cả 3 lên xe máy do H điều khiển tẩu thoát ra đường quốc lộ 1K để về nhà và trả xe cho T1. Anh T được anh M đưa đến bệnh viện đa khoa quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh điều trị thương tích.
Kết luận Giám định pháp y số 0676 GĐPY 2018 ngày 24 8 2018 của Trung tâm Pháp y S Y tế tỉnh Đồng Nai kết luận giám định pháp y về thương tích của anh Đỗ Văn T:
- Tổn thương gãy đầu trên xương tr trái có mảnh rời hiện để lại hạn chế vận động khớp khuỷa tay trái từ 05 độ đến 145 độ (áp d ng Chương 8 Điều II M c 3.2.1) tỷ lệ 15%; vết thương khuỷu tay trái để lại sẹo kích thước (04 x 0,2)cm (áp d ng Chương 9 Điều I M c 1) tỷ lệ 02 %; tỷ lệ tổn thương cơ thể (áp d ng phương pháp cộng lùi) do thương tích gây nên tại thời điểm giám định 17 %. Vật gây thương tích vật s c.
Vật chứng thu gi : 02 con dao tự chế bằng kim loại.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đỗ Văn T yêu cầu bị cáo H bồi thường 4.200.000 đồng tiền viện phí.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 134 2019 HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D tỉnh Bình Dương đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28 11 2018.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 khoản 2 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584 585 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Võ Ngọc H phải bồi thường cho anh Đỗ Văn T số tiền 4.200.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa v chậm thi hành án xử lý vật chứng án phí quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/5 2019 bị cáo Võ Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Bị cáo thực hiện quyền kháng cáo trong thời hạn luật định Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương đưa v án ra xét xử phúc thẩm là đúng thẩm quyền đúng quy định của pháp luật. Về nội dung Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Ngọc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết gì mới. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo “đầu thú” được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo là thiếu sót cần rút kinh nhiệm. Đồng thời nhận thấy hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo là phù hợp nên không có cơ s chấp nhận kháng cáo của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử gi nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
Trong lời nói sau cùng bị cáo Võ Ngọc H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm tr về với gia đình làm việc và nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Võ Ngọc H đã khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 21 giờ ngày 20 05 2018, H rủ người tên D, L (không rõ nhân thân) đi chém anh Cao Văn M do anh M mâu thuẫn với H tại bãi xe ô tô “Quốc Nghị” địa chỉ khu phố Bình Đường 1 phường An Bình thị xã D tỉnh Bình Dương. Tại đây cả nhóm g p anh Đỗ Văn T đứng ra bênh vực cho anh M, D cầm dao tự chế chạy đến chém anh T một nhát vào tay trái H và L cầm dao xông vào chém thì anh T, anh M cầm cây chống trả H và L bỏ lại dao tự chế bỏ chạy. Hậu quả anh Đỗ Văn T bị thương tích 17 %. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Võ Ngọc H về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người đúng tội đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và xác định tình tiết tăng n ng “có tính chất côn đồ” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 và điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp vì đây là 02 tình tiết định khung quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã “đầu thú” nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là thiếu sót. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp nên không cần thiết phải sửa án sơ thẩm.
Xét kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc H về việc xin giảm nhẹ hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe anh Đỗ Văn T được pháp luật bảo vệ. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới cho yêu cầu của mình, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo mức hình phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy không có cơ s để chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc H.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết v án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Võ Ngọc H phải nộp án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố t ng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Ngọc H; gi nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 134 2019 HS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2019 của Tòa án nhân dân thị xã D tỉnh Bình Dương.
Áp d ng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/11/2018.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp d ng Điều 136 của Bộ luật Tố t ng hình sự; Nghị quyết số 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của y ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Võ Ngọc H phải nộp 200.000 đồng.
3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. .
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - Trại tạm giam – Công an tỉnh BD; - TAND thị xã D; - VKSND thị xã D; 1 - Chi c c THADS thị xã D; 1 - Phòng PV06 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị xã D; 1 - S Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 - Bị cáo. 3 - Lưu: Tổ HCTP HSVA Tòa HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Quân Vƣơng |