- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc T - phạm tội vận chuyển trái phép chất ma túy (điều 250 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 126/2018/HSST Ngày: 29-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyễn Ngọc Quang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Nông.
2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai, Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Sơn, Kiểm sát viên.
Vào ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2018/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018, theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 125/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1977, tại tỉnh Quảng Bình; thƣờng trú: Tổ N, ấp M, xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phƣớc; chỗ ở: Số 113, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L (đã chết) và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Lê Thị V, sinh năm 1990 và có 01 con sinh năm 2014; bị cáo có 04 em, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 1986; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/01/2018 cho đến nay. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Lê Thị V, sinh năm 1990. (Có mặt)
Thƣờng trú: Thôn T, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.
Chỗ ở: Số 14/7, khu phố T, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
- Người làm chứng:
Bà Dƣơng Thị T, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
Thƣờng trú: Thôn A, xã E, huyện H, tỉnh Đăk Lăk.
Chỗ ở: Số 113, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Nguyễn Ngọc T là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 21/01/2018, T sử dụng số điện thoại 0981.598.596 gọi cho ngƣời đàn ông (chƣa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 800.000 đồng ma túy đá. Ngƣời này hẹn T đến cầu vƣợt Q, thuộc quận M, thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy. T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 đến điểm hẹn. Ngƣời đàn ông đƣa cho T 04 gói nylon chứa ma túy đá và nhận tiền. T đem ma túy về phòng trọ sử dụng một ít, số còn lại T mở nắp sau điện thoại di động hiệu Vogue Phone và bỏ 04 gói ma túy vào cất để sử dụng dần.
Đến sáng ngày 23/01/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 93E1-108.24 đi đến chùa M trên đƣờng V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để lấy thuốc thì gặp ngƣời đàn ông đã bán ma túy cho T. Do định về quê chơi nên T hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá và ngƣời đàn ông bán cho T 01 gói nylon chứa ma túy. T lấy gói ma túy bỏ vào gói thuốc lá hiệu 555, cất gói thuốc vào túi áo bên trái và điều khiển xe về Bình Dƣơng. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô biển số 93E1-108.24 đến trƣớc nhà số 113, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng tuần tra Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an thị xã Dĩ An thấy có dấu hiệu nghi vấn nên dừng xe kiểm tra. Công an phát hiện trong túi áo bên trái của T 01 vỏ bao thuốc lá 555 bên trong chứa 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng và trong túi quần bên trái có 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen, trong nắp phía sau điện thoại có 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, T khai tất cả là ma túy đá. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với T.
Vật chứng tạm giữ gồm: 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24, 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen, sim số 0981.598.596.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Ngọc T, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Theo kết luận giám định số 88/MT-PC54 ngày 30/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận:
- Chất tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon miệng kéo dính (ký hiệu M1) thu giữ của Nguyễn Ngọc T có trọng lƣợng 0,4578 gam, là ma túy loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định 0,3047 gam);
- Chất tinh thể màu trắng trong 04 gói nylon hàn kín (ký hiệu M2) thu giữ của Nguyễn Ngọc T có trọng lƣợng 0,5973 gam, là ma túy loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định 0,4166 gam).
Theo kết luận định giá tài sản số 46/BB.ĐG ngày 28/3/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 trị giá 25.000.000 đồng.
Ngày 01/02/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và lệnh tạm giam đối với Nguyễn Ngọc T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với ngƣời đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Ngọc T, do chƣa xác định nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 116/CT – VKS ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nhƣ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 88/PC54, bên trong có chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3047 gam (ký hiệu M1) và 0,4166 gam (ký hiệu M2); sim số 0981.598.596; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, đây là những vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội là tài sản riêng của bị cáo, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 là tài sản chung của bị cáo T và vợ là chị Lê Thị V. Do bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc ½ giá trị xe và trả lại chị Lê Thị V ½ giá trị xe.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Về thủ tục tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
Tại phiên toà, ngƣời làm chứng Dƣơng Thị T vắng mặt. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ngƣời làm chứng.
Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Ngọc T khai nhận: T là đối tƣợng sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 21/01/2018, T gọi cho một ngƣời đàn ông (chƣa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy đá. Sau đó, T điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 đến cầu vƣợt Q, thuộc quận M, thành phố Hồ Chí Minh găp ngƣời đàn ông mua 04 gói nylon chứa ma túy đá giá 800.000 đồng. T đem ma túy về phòng trọ sử dụng một ít, số còn lại T mở nắp sau điện thoại di động hiệu Vogue Phone và bỏ 04 gói ma túy vào cất để sử dụng.
Đến sáng ngày 23/01/2018, T điều khiển xe mô tô biển số 93E1-108.24 đi đến chùa M trên đƣờng V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh gặp ngƣời đàn ông đã bán ma túy cho T. T hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá và ngƣời đàn ông bán cho T 01 gói nylon chứa ma túy. T lấy gói ma túy bỏ vào gói thuốc lá hiệu 555, cất gói thuốc vào túi áo bên trái và điều khiển xe về Bình Dƣơng. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe đến trƣớc nhà số 113, khu phố B, phƣờng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng thì bị lực lƣợng tuần tra Công an tỉnh Bình Dƣơng phối hợp với Công an thị xã Dĩ An dừng xe kiểm tra. Công an phát hiện trong túi áo bên trái của T có 01 vỏ bao thuốc lá 555 bên trong chứa 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng và trong túi quần bên trái có 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen, trong nắp phía sau điện thoại có 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, T khai tất cả là ma túy đá. Công an tiến hành lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang đối với T.
Vật chứng tạm giữ gồm: 01 gói nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, 04 gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24, 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen, sim số 0981.598.596.
Cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiến hành khám xét nơi ở của Nguyễn Ngọc T, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Theo kết luận giám định số 88/MT-PC54 ngày 30/01/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 gói nylon miệng kéo dính (ký hiệu M1) có trọng lƣợng 0,4578 gam, là ma túy loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định 0,3047 gam) và chất tinh thể màu trắng trong 04 gói nylon hàn kín (ký hiệu M2) có trọng lƣợng 0,5973 gam, là ma túy loại Methamphetamine (trọng lƣợng còn lại sau giám định 0,4166 gam).
Theo kết luận định giá tài sản số 46/BB.ĐG ngày 28/3/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 trị giá 25.000.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận giám định số 88/MT-PC54 ngày 30/01/2018 và bị cáo, chị Lê Thị V không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá tài sản số 46/BB.ĐG ngày 28/3/2018.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ ngƣời phạm tội quả tang, lời khai của ngƣời làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của Nguyễn Ngọc T đã vi phạm vào Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nhƣ vậy, Cáo trạng số 116/CT – VKS ngày 19 tháng 4 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An truy tố Nguyễn Ngọc T về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi do mình gây ra.
Tính chất, mức độ của hành vi:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm việc quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây tác hại rất lớn cho bản thân, cho xã hội và gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Ma túy là tiền đề của tội phạm. Hiện nay, Đảng, Nhà nƣớc và toàn xã hội đang ra sức tuyên truyền cho ngƣời dân hiểu biết về tác hại của ma túy và ra sức phòng chống. Chỉ vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã thực hiện tội phạm là xem thƣờng pháp luật và bất chấp hậu quả. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý mức án phù hợp nhằm giáo dục trực tiếp bị cáo và phòng ngừa chung, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo đoạn tuyệt với ma túy.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, có con nhỏ, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo và căn cứ điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong số 88/PC54, bên trong có chứa tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, trọng lƣợng còn lại sau giám định là 0,3047 gam (ký hiệu M1) và 0,4166 gam (ký hiệu M2), sim số 0981.598.596, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, đây là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen, bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội là tài sản riêng của bị cáo, nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc.
- Đối với xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 là tài sản chung của bị cáo T và vợ là chị Lê Thị V. Do bị cáo sử dụng xe mô tô vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc ½ giá trị xe và trả lại chị Lê Thị V ½ giá trị xe.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù đƣợc tính từ ngày 23/01/2018.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc: 01 điện thoại di động hiệu Vogue Phone màu xanh đen; ½ giá trị xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24 (SK 4615EY629871, SM F46E-2090131).
- Trả lại chị Lê Thị V ½ giá trị xe mô tô hiệu Honda Airblade biển số 93E1-108.24.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,3047 gam (ký hiệu M1) và 0,4166 gam (ký hiệu M2) chất tinh thể màu trắng loại Methamphetamine, chứa trong bì thƣ đƣợc niêm phong số 88/PC54, sim số 0981.598.596 và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Vật chứng Hội đồng xét xử tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc, trả lại giá trị, tiêu hủy nêu trên thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/4/2018 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Dĩ An.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Nguyễn Ngọc T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Dĩ An; - Công an thị xã Dĩ An; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - Bị cáo; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - UBND xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phƣớc; - Lƣu hồ sơ vụ án, văn thƣ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyễn Ngọc Quang |