vanban.org

Bản án 126/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 24/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

[1] Tuyên bố bị cáo Lý Trung H phạm tội "Trộm cắp tài sản". [2] Xử phạt bị cáo Lý Trung H 01 (một) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "173.Tội trộm cắp tài sản (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2018/HSST
Ngày: 24 - 10 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Trần Quang Cảnh

2/ Bà Trần Thị Vân Anh

- Thư ký Tòa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh– Thư ký Tòa án nhân

dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Túy Giang – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 125/2018/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2018/QĐXXST-HS ngày 03/10/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2018/HSST – QĐ ngày 17/10/2018 đối với bị cáo:

Lý Trung H (Tên gọi khác: Quỳnh); sinh năm: 1996, tại: An Giang; trú tại: 13R3 Đ, xã M, huyện L, tỉnh A; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Phước Ngh, sinh năm 1973 và bà Võ Thị Lệ H, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền sự: không; tiền án: Ngày 08/6/2015 bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/01/2016; ngày 19/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2017; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày: 07/6/2018 – Có mặt

- Bị hại: Anh Lê Nguyễn Anh T; sinh năm: 1994; thường trú: 02 Mai Dương, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định; chỗ ở: Không nơi ở nhất định – Vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Bà Võ Thị Lệ H; sinh năm: 1974; thường trú: 13R3 Đông Thịnh 6, xã Mỹ Phước, huyện Long Xuyên, tỉnh An Giang – Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trang 1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 06/6/2018 Lý Trung H (Tên gọi khác: Quỳnh) lên mạng zalo làm quen và rủ Lê Nguyễn Anh T quan hệ tình dục, vì H mới chuyển đổi giới tính cần quan hệ tình dục để bộ phận âm đạo mới không bị co và bình thường như phụ nữ, T đồng ý (Tuấn không biết H đã chuyển đổi giới). H kêu T đến khách sạn Thu Hà số 550 L, phường H, quận T thuê phòng và nhắn số phòng cho H biết. Khoảng 20 phút sau T nhắn H đến phòng 102 của khách sạn Thu Hà gặp T.

Khi gặp nhau, cả hai tự cởi quần áo, T để quần áo trên ghế sát tường, H nằm trên người và mặt của H nghiêng về vai phải nơi T để tài sản. Lúc này điện thoại di động của T có tín hiệu tin nhắn, H nghe và biết đó là điện thoại di động hiệu Iphone có giá trị nên nảy sinh ý định lấy trộm. Trong lúc H ôm đè lên người T, che khuất tầm nhìn của T thì H lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus trong túi quần bên trái và số tiền 100.000 đồng (Gồm hai tờ tiền Việt Nam mệnh giá 50.000 đồng) trong chiếc bóp ở túi quần bên phải của anh T rồi ném chiếc bóp xuống đất và giấu tiền và điện thoại dưới gối T đang nằm. T yêu cầu có bao cao su mới quan hệ tình dục, H giả vờ mở xách tìm bao cao su, lợi dụng lúc T không để ý, H lấy điện thoại và tiền đã lấy trộm của T cất vào giỏ xách, lúc này bạn của H gọi điện thoại rủ H đi uống nước. H mặc quần áo vào rồi nói với T: “Để em xuống lấy bao”, mục đích tẩu thoát. Khi Hra đến cửa thì gặp M (Chưa rõ lai lịch) là người chuyển giới, H kêu M vào quan hệ với T, còn H xuống khách sạn lấy xe máy biển số 59K1-846.31 rồi bỏ đi. M vào phòng nói với T để đi lấy bao cao su rồi bỏ đi. Lúc này T kiểm tra túi quần thì phát hiện mất tiền và điện thoại nên trả phòng và chạy xe đi tìm H. Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày khi H chạy xe đến trước nhà 562/1 Lũy Bán Bích, phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú thì bị T phát hiện tri hô, Công an phường Hòa Thạnh tuần tra bắt giữ H, thu giữ chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus ở hộc bên trái của xe H cùng số tiền 100.000 đồng trong giỏ xách của H và xe máy chuyển công an phường Hòa Thạnh, quận Tân Phú.

Tại bản cáo trạng số 129/CT-VKSTP ngày 18 tháng 9 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú đã truy tố các bị cáo Lý Trung H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Lý Trung H từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Trang 2

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Bị cáo Lý Trung H đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án được tóm tắt như trên, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm

sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định:

Do H mới giải phẩu bộ phận sinh dục từ nam sang nữ cần có người quan hệ tình dục để bộ phận sinh dục mới không bị co nên khoảng 17 giờ ngày 06/6/2018 Lý Trung H lên mạng zalo làm quen và rủ Lê Nguyễn Anh T quan hệ tình dục, H và T gặp nhau tại phòng số 102 của khách sạn Thu Hà số 550 L, phường H, quận T, trong lúc nằm đè lên người anh T, H nghe có âm báo tin nhắn đến điện thoại di động của anh T, thì H biết đó là điện thoại Iphone nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Lợi dụng sự sơ hở và khi nằm đè lên người đã che khuất tầm nhìn của anh T, H đã lấy trộm 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus trong túi quần bên trái và số tiền 100.000 đồng trong chiếc bóp ở túi quần bên phải của anh T rồi tẩu thoát.

Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Lý Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản”, như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại, lén lút chiếm đoạt chiếc điện thoại di động, qua định giá có giá trị 4.500.000 đồng và số tiền 100.000 đồng nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố bị cáo Lý Trung H theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội.

Trang 3

Về nhân thân: Ngày 08/6/2015 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/01/2016; ngày 19/01/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/10/2017. Bị cáo bị kết án chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm được qui định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone 6 Plus 64Gb, màu vàng – trắng và số tiền 100.000 đồng (gồm hai tờ tiền Việt Nam mệnh giá mỗi tờ 50.000 đồng) đã trả lại cho người bị hại là anh Lê Nguyễn Anh T, và anh Tuấn không có yêu cầu gì khác do phần trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- 01 ( một) xe gắn máy hiệu Honda Vision, màu đỏ đen, biển số 59K1-846.31, số khung: RLHJ5805EY153065, số máy: JF58E-0153119 Lý Trung Hiếu khai mượn của mẹ ruột là bà Võ Thị Lệ H, qua xác minh xe trên do bà Huỳnh Thị Thanh H là chủ sở hữu, khoảng tháng 6/2017 bà H bán cho một người đàn ông chưa rõ lai lịch. Bà H khai khoảng tháng 5/2018 mua chiếc xe máy trên của một người đàn ông chưa rõ lai lịch, không làm giấy mua bán, H mượn xe dùng làm phương tiện phạm tội bà H không biết nên cơ quan điều tra đã trả chiếc xe máy trên bà chị Võ Thị Lệ H nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- 01 (một) túi xách tay màu xám, kích thước 20cm x 15cm x 7cm (bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội) và 01 (một) áo thun màu xám, phía trước ngực có dòng chữ “ GROTTA AZZUPRA” (là tài sản cá nhân của bị cáo) và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Án phí: Bị cáo Lý Trung H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Trang 4

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Tuyên bố bị cáo Lý Trung H phạm tội "Trộm cắp tài sản".

[2] Xử phạt bị cáo Lý Trung H 01 (một) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 07/6/2018

[3] Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về xử lý vật chứng:

[

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi xách tay màu xám, kích thước 20cm x 15cm x 7cm và 01( một) áo thun màu xám, phía trước ngực có dòng chữ “GROTTA AZZUPRA”.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 186/PNK ngày 08/6/2018 của Công an quận Tân Phú)

[5] Buộc bị cáo Lý Trung H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Bị cáo L; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Lệ H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ