- Tranh chấp gì? án hình sự — "T phạm tội "Giết người" - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Việt T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 421/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1255/2024/HS-PT Ngày 30 tháng 12 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tửu
Các Thẩm phán:
Ông Lê Thành Long
Bà Huỳnh Thanh Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Hà - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 896/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Việt T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 421/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1102/2024/QĐXXPT-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với:
* Bị cáo có kháng cáo:
Bùi Việt T, sinh năm 1965 tại tỉnh Long An; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký thường trú: 549/18 đường T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: 1 đường số F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Văn B và bà Đinh Thị P; Vợ tên Biện Thị P1; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ: Ngày 05 tháng 6 năm 2023; Tạm giam: Ngày 14 tháng 6 năm 2023 (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
1. Luật sư Nguyễn Hương G - Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt);
2. Luật sư Huỳnh Trí T1 - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt);
3. Luật sư Bùi Quang C và Luật sư Nguyễn Hồng K - Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt);
* Bị hại: Ông Lê Hoài H, sinh năm 1986 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Ông Lê Văn P2 (cha của bị hại), sinh năm không rõ (vắng mặt);
2. Bà Trần Thị Thanh V (mẹ của bị hại), sinh năm 1956 (vắng mặt);
Nơi cư trú: E Kinh T, ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Bùi Việt T cùng gia đình cư trú tại nhà số A đường số F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. T sử dụng phần đất trống phía sau nhà để làm chuồng chăn nuôi gia cầm bằng hàng rào mái tôn và dây thép gai. Trong quá trình chăn nuôi, do nhiều lần bị mất trộm gà, vịt nên T đã mua dây điện nối cầu dao dẫn nguồn điện 220V từ trong nhà ra hàng rào bằng mái tôn và dây thép gai phía sau nhà để chống trộm.
Khoảng 03 giờ ngày 04 tháng 6 năm 2023, T thức dậy đi vệ sinh thì nghe có tiếng động ở khu vực phía sau chuồng chăn nuôi gà, vịt. T đi ra xem thì thấy anh Lê Hoài H đang cầm điện thoại rọi đèn vào khu vực chuồng gà, vịt. T tri hô “Ăn trộm” và dùng tay kéo cầu dao, kết nối nguồn điện với mái tôn hàng rào và đường dây thép gai. Nghe tiếng tri hô, anh H bỏ chạy, chân trái chạm vào đường dây thép gai nên bị điện giật té ngã. Sau đó, T kéo cầu dao ngắt nguồn điện. Lúc này, anh Kim Đ, anh Quách P3 và anh Quách P4 đang nhậu gần đó nghe tri hô trộm và thấy có 01 người thanh niên (không rõ lai lịch) bỏ chạy nên các anh đi đến chỗ anh H đang nằm. Do trước đó đã từng bị mất trộm và nghĩ anh H là người trộm nên anh P4 dùng chân đá 02 cái vào vai phải anh H. Thấy anh H vẫn nằm bất động, anh Đ dùng tay trái nắm áo kéo anh H đứng lên và dùng tay phải đánh 02 cái vào lưng anh H nhưng thấy anh H vẫn không có phản ứng nên anh Đ để H nằm ngửa ra đất. Tiếp đó, anh P4 lấy xô trong nhà T múc nước tạt vào người anh H nhưng anh H vẫn nằm bất động nên các anh Đ, P3 và P4 bỏ đi.
Lúc này, anh Bùi Minh T2 (con ruột của T) lấy một đoạn dây vải thun dài khoảng 70cm màu hồng nhạt ra đưa cho T cột hai tay của anh H ra phía trước bụng. T vào nhà lấy kiềm cắt đoạn dây điện đã nối nguồn điện với các tấm tôn và dây thép gai, rồi cuốn lại mang cất giấu trong 01 cái xô màu trắng để trên chuồng gà. Đồng thời, T bảo vợ là bà Biện Thị P1 gọi điện thoại báo cho bảo vệ khu phố và Công an phường B, quận B. Khi lực lượng Công an đến hiện trường thì phát hiện H đã tử vong. T sợ bị phát hiện nên đã lén lút lấy cuộn dây điện trong xô trên chuồng gà đem lên lầu 1 trong nhà, cất giấu dưới nệm giường. Sau khi bị phát hiện, T đã khai nhận hành vi phạm tội và giao nộp cuộn dây điện cùng các vật chứng có liên quan.
Bản kết luận giám định tử thi số 5985-23/KL-KTHS ngày 04 tháng 6 năm 2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận về thương tích và nguyên nhân H tử vong như sau (BL 82-93):
“Các kết luận chính:
+ Vùng đầu: Dập rách môi trên bên phải (mặt trong). Bầm tụ máu đỉnh chẩm trái, kích thước 09cm x 3,5cm. Bầm tụ máu thái dương phải kích thước 05cm x 03cm. Bầm tụ máu chẩm phải, kích thước 01cm x 01cm. Bên trong: Tụ máu dưới da thái dương chẩm phải và đỉnh chẩm trái, không tụ máu cơ thái dương hai bên. Xương hộp sọ, xương hàm mặt không nứt vỡ. Màng não và não không tổn thương. Não phù, sung huyết.
+ Vùng cổ: Không tụ máu dưới da và trong cơ. Xương móng, sụn giáp, sụn khí quản không nứt vỡ. Lòng khí quản có ít dịch bọt, niêm mạc sung huyết.
+ Vùng ngực - bụng: Không tụ máu dưới da và trong cơ. Hệ thống xương sụn không tổn thương.
Hai phổi phù, sung huyết, màng phổi xuất huyết dạng chấm rải rác, tập trung chủ yếu ở rãnh liễn thùy, mặt cắt trào dịch bọt màu hồng sậm.
Bao màng tim không dập rách, ngoại tâm mạc xơ hoá và xuất huyết dạng chấm rải rác. Mặt cắt cơ tim có đám cơ tim nhạt màu xen lẫn thẫm màu. Buồng tim phải chứa đầy máu không đông.
Các tạng khác đều sung huyết, không tổn thương. Khoang ngực hai bên, xoang màng tim, ổ bụng sạch.
+ Xây xát da, dập rách da cằng chân trái, quanh mắt cá trong, kích thước 07cm x 03cm (mặt cắt không chảy máu).
+ Kết luận tổn thương vi thể: Hình ảnh tổn thương da cẳng chân trái điển hình do tiếp xúc điện. Tình trạng rối loạn vi tuần hoàn (ngấm phù, sung huyết và xuất huyết rải rác ở các tạng).
+ Trong máu không tìm thấy cồn và ma tuý.
+ Tìm thấy C1 trong máu và chất chứa trong dạ dày.
- Kết luận:
+ Nguyên nhân chết: Lê Hoài H chết do điện giật. Dấu vết tiếp xúc điện điển hình ở cẳng chân trái.
+ Trong máu không tìm thấy cồn và ma túy.
+ Tìm thấy C1 trong máu và chất chứa dạ dày”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, phù hợp với kết luận giám định pháp y tử thi, tang vật tạm giữ, lời khai người biết việc cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án (BL 200-212). Các anh Quách P4, Kim Đ và Quách P3 cũng khai nhận sự việc như đã nêu.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tác động để vợ bị cáo bồi thường 135.000.000 đồng cho bà Trần Thị Thanh V (mẹ đẻ của bị hại H). Bà V đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (BL 144).
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 421/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ Điều 47, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt bị cáo Bùi Việt T 12 (mười hai) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 6 năm 2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về các biện pháp tư pháp, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo theo luật định.
- Ngày 05 tháng 9 năm 2024, bị cáo Bùi Việt T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, với lý do: Mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt là quá nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo. Vì thế, bị cáo T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
- Bị cáo Bùi Việt T trình bày: Giữ nguyên lý do và yêu cầu kháng cáo nêu trên. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung án sơ thẩm đã nêu trên, nên bị cáo không kháng cáo kêu oan, bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hiện, bị cáo có mẹ già luôn đau yếu, bản thân bị cáo có bệnh nền, gia đình khó khăn, ngoài ra bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như án sơ thẩm đã nêu. Do đó, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Tòa sơ thẩm xử bị cáo Bùi Việt T về tội “Giết người” theo điểm l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, không oan, sai. Khi quyết định về hình phạt, Tòa sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện chứng cứ; quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Mức án Tòa sơ thẩm tuyên phạt đối với bị cáo T là đã tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm không có căn cứ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên án sơ thẩm.
- Luật sư Nguyễn Hương G trình bày: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt. Tuy nhiên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do trong vụ án này bị cáo phạm tội là có lỗi của bị hại: bị hại xâm nhập vào chuồng chăn nuôi gia cầm thuộc sở hữu của bị cáo trong lúc đêm khuya; do bức xúc vì trước đó bị cáo đã bị mất nhiều gà, vịt nên dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo.
- Luật sư Bùi Quang C trình bày: Đồng ý với bào chữa của Luật sư G và bổ sung: Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự đầu thú nên đề nghị cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ này.
- Luật sư Huỳnh Trí T1 trình bày: Đồng ý với bào chữa của các luật sư đồng nghiệp và bổ sung: Việc anh H bị chết là có tác động vật lý của các anh P4, anh Đ; sau khi phạm tội, bị cáo đã đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, gia đình bị cáo có công với cách mạng nên đề nghị áp dụng điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự về chính sách khoan hồng của Bộ luật Hình sự.
- Luật sư Nguyễn Hồng K: Đồng ý với bào chữa của các luật sư đồng nghiệp nên không bào chữa bổ sung.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại; gia đình bị cáo khó khăn, mẹ già bị bệnh, bản thân bị cáo cũng có bệnh nền, nên xin Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Kháng cáo của bị cáo còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Bùi Việt T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Giết người” đúng như nội dung án sơ thẩm đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, người liên quan, người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Từ đó, có cơ sở xác định:
Bị cáo Bùi Việt T cùng gia đình cư trú tại nhà số A đường số F, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Do phía sau nhà của T có một phần đất quy hoạch còn để trống, nên T đã sử dụng phần đất này để làm chuồng chăn nuôi gia cầm bằng cách dùng tôn và dây thép gai rào lại. Do đã nhiều lần bị mất trộm gia cầm, T đã dùng dây điện, cầu dao đấu nối nguồn điện 220V từ trong nhà với hàng rào bằng tôn và dây thép gai nhằm mục đích chống trộm, bắt trộm.
Khoảng 03 giờ ngày 04 tháng 6 năm 2023, T thức dậy đi vệ sinh thì nghe có tiếng động ở khu vực phía sau chuồng chăn nuôi gia cầm. T đi ra xem thì thấy anh Lê Hoài H đang cầm điện thoại rọi đèn vào khu vực chuồng gà, vịt. T tri hô “Ăn trộm” và dùng tay kéo cầu dao mở nguồn điện kết nối với hàng rào tôn và dây thép gai. Nghe tiếng tri hô, anh H bỏ chạy, chân trái chạm vào đường dây thép gai nên bị điện giật té ngã và chết. Theo kết quả giám định pháp y, nguyên nhân anh H chết là do bị điện giật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến tính mạng người khác. Hành vi đấu nối nguồn điện 220V với hàng rào bằng tôn và dây kẽm gai ở khu vực khu dân cư là có thể làm chết nhiều người. Bị cáo nhận thức được hậu quả của hành vi sẽ gây ra nhưng vẫn thực hiện. Bị cáo thấy trước được hậu quả của hành vi của mình là có thể làm anh H chết, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.
Căn cứ vào các nhận định đã nêu, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy Tòa sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Việt T về tội “Giết người” theo điểm l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, không oan, sai.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Bùi Việt T, xét: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét việc bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động đến gia đình để bồi thường cho đại diện của bị hại; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị hại có một phần lỗi; cha, mẹ bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng thưởng nhiều huân, huy chương. Từ đó, Tòa sơ thẩm cho bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đúng. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được chứng cứ nào mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận đề nghị của Luật sư, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo T, giữ nguyên án sơ thẩm.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Quyết định khác của án sơ thẩm về các biện pháp tư pháp, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Việt T, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 421/2024/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Tuyên bố bị cáo Bùi Việt T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng Điều 38, Điều 47, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm l khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Xử phạt bị cáo Bùi Việt T 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 6 năm 2023.
- Tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Việt T theo quyết định của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Bùi Việt T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Quyết định khác của án sơ thẩm về các biện pháp tư pháp, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Công an Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - Trại tạm giam Chí Hòa, Công an Thành phố Hồ Chí Minh “để tống đạt cho các bị cáo”; - Lưu HS (2), VT (5), 22b, (TK-PH). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tửu |