vanban.org

Bản án 1253/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Mỹ T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Mỹ T được quyền ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn đơn phương"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Mỹ T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1253/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18/8/2022
V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

- Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Huế;

2. Ông Nguyễn Đức Thanh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 18 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 610/2022/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2022 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 324/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 348/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Vương Mỹ T, sinh năm 1990 (có mặt).

Thường trú: Số 5A, đường N, Tổ 7, ấp B, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Thường trú: Số 36, đường L (đường cũ số 441), Tổ 90, ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 1 -

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại Đơn xin ly hôn ngày 30/3/2022, tại bản tự khai ngày 30/3/2022, tại biên bản ghi nhận sự vắng mặt của đương sự ngày 14/7/2022 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Vương Mỹ T trình bày sự việc như sau:

Năm 2010 bà (Vương Mỹ T) và ông Nguyễn Văn H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, Giấy chứng nhận kết hôn số 167/2010 quyển số 1/2010 do Ủy ban nhân dân xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi cấp. Sau khi kết hôn vợ chồng bà về sống bên gia đình chồng, thời gian đầu hôn nhân tương đối hạnh phúc, nhưng càng về sau thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm, chồng bà thường gây nợ nần do cờ bạc, hơn nữa chồng bà nghiện ma túy nên thường xuyên vắng nhà. Bà và ông H ly thân từ tháng 10/2020 (thời điểm ông H đi cai nghiện ma túy), ông H đã đi cai nghiện ma túy về khoảng 04 – 05 tháng nay và đồng ý ly hôn nhưng ông H không chịu lên Tòa án. Nhận thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, cả hai không còn yêu thương, tôn trọng nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Về con chung: Bà và ông H có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 14/4/2011. Hiện con chung đang sống cùng với bà bên nhà ba mẹ ruột của bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà xác định bà và ông H không có tài sản chung.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định bà và ông H không có nợ chung.

- Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn H không có mặt nên không có lời khai của ông H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện ông Nguyễn Văn H hiện cư trú tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- 2 -

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 610/TB-TA ngày 19/4/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 324/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2022 kèm giấy triệu tập và Quyết định hoãn phiên tòa số 348/2022/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt mà không rõ lý do. Căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông H.

Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Vương Mỹ T về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn H, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Vương Mỹ T và ông Nguyễn Văn H kết hôn với nhau năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi, Giấy chứng nhận kết hôn số 167/2010 quyển số 1/2010 do Ủy ban nhân dân xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi cấp ngày 28/9/2010, nên là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Theo lời bà T trình bày thì sau khi kết hôn, vợ chồng bà về sống bên gia đình chồng, thời gian đầu hôn nhân tương đối hạnh phúc, nhưng càng về sau thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm, chồng bà thường gây nợ nần do cờ bạc, hơn nữa chồng bà nghiện ma túy nên thường xuyên vắng nhà. Bà và ông H ly thân từ tháng 10/2020 (thời điểm ông H đi cai nghiện ma túy), ông H đã đi cai nghiện ma túy về khoảng 04 – 05 tháng nay và đồng ý ly hôn nhưng ông H không chịu lên Tòa án. Nhận thấy vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, cả hai không còn yêu thương, tôn trọng nhau nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông H có nhiều mâu thuẫn. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông H đều không có mặt mà không có lý do, điều này thể hiện ông H không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T.

Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà T và ông H không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt

- 3 -

được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà T là có cơ sở.

- Về con chung:

Bà T và ông H có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 14/4/2011. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, do con chung Nguyễn Ngọc M có nguyện vọng được sống cùng với mẹ là bà T nên Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Do bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà T.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông H được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Tài sản chung:

Bà T khai bà và ông H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà T khai bà và ông H không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí:

Bà T phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

- 4 -

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Khoản 2 Điều 81, Khoản 3 Điều 81, Khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Mỹ T.

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Vương Mỹ T được quyền ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

Giấy Chứng nhận kết hôn số 167/2010 quyển số 1/2010 do Ủy ban nhân dân xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi cấp cho bà T và ông H ngày 28/9/2010 không còn giá trị pháp lý.

- Về con chung:

Bà T và ông H có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 14/4/2011. Giao con chung Nguyễn Ngọc M cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông H được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Bà T khai giữa bà T và ông H không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà T khai giữa bà T và ông H không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

- 5 -

2. Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà T phải nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0044362 ngày 19/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Nguyễn Văn H) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ