vanban.org

Bản án 125/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/07/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/07/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2026/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp. Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T phạm tội “Huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang T - hủy hoại nguồn lợi thủy sản (điều 242 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2026/HS-PT
Ngày: 15 - 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu.

Các Thẩm phán:

Ông Võ Thanh Bình;

Ông Trần Hữu Tính.

-Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Mơ – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Hồ Minh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 137/2026/TLPT- HS ngày 29 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Trần Quang T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 62/2026/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.

- Bị cáo có kháng cáo:

Trần Quang T, sinh ngày 09/9/1980 tại tỉnh Đồng Tháp. Thẻ CCCD: 082080021204; Nơi cư trú: Ấp A, xã B, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kiều O; Bị cáo có vợ Nguyễn Thị M và có 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 lần. Năm 2024 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản đối với trường hợp không sử dụng tàu cá mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự” tại Quyết định số 1139/QĐ-XPHC ngày 27/11/2024, đóng phạt ngày 27/6/2025.

Nhân thân: Năm 2023 bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản” tại Quyết định số 172/QĐ-XPHC ngày 14/3/2023, đóng phạt ngày 17/3/2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra bản án còn có 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo; Bản án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quang T có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản” bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 1139/QĐ-XPHC ngày 27/11/2024.

Khoảng 07 giờ ngày 04/9/2025, Trần Quang T điều khiển xuồng nhựa composite đi từ nhà ấp T, xã T 1 đến phần đất trồng khóm cùng ấp của anh Trần Hữu Q, trên xuồng có 01 cục kích điện, 01 bình ắc quy, 01 thùng nhựa màu trắng dùng để đựng cá, 01 cây vợt bằng tre dùng để vớt cá, 01 cây gỗ làm bằng tre, 01 cây gỗ khô (cây dầm), mục đích để bắt cá trên mương khóm của anh Q bằng cách kích điện. Cùng đi với T có Võ Hùng C (bạn của T). T dùng 02 sợi dây điện một đầu nối vào 02 đầu kẹp bình ắc quy, 02 đầu dây điện còn lại nối vào cục kích điện, dùng 02 kẹp kẹp vào đầu 02 cọc bình ắc quy, còn 01 đầu dây điện nối vào đầu vợt, có làm công tắc (bóp vào sẽ dẫn điện, khi buông ra thì không dẫn điện). Khi T đưa đầu vợt xuống mương nước, bóp kẹp thì sẽ phát điện, dẫn điện xuống nước, đưa đầu vợt rà dưới mương nước chỗ nào có cá thì cá bị điện giật sẽ nổi lên, rồi dùng vợt vớt cá lên bỏ vào thùng nhựa để sẵn trên xuồng. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày lực lượng công an phát hiện thu giữ xuồng, toàn bộ dụng cụ dùng xiệt cá và 3,2 kilogramcá các loại Thái đã xiệt bắt được.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 03/KL-HĐĐGTS ngày 10/11/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã T, kết luận: “3,2 (ba phẩy hai) kilogram hỗn hợp các loại cá gồm: cá lóc, cá trê, cá rô phi có giá trị là 297.600 đồng”.

* Tại kết luận giám định số 5210/KL-KTHS ngày 7/11/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“- Khi cấp nguồn từ bình ắc quy 12V cho bộ kích điện hoạt động, điện áp đầu ra đo được tại vị trí đầu vợt kim loại là từ A - 315V.

- Điện áp 150V - 315V là điện áp có gây nguy hại cho con người, động vật và các loài thuỷ, hải sản dưới nước.”

* Tại công văn số 1010/UBND-PKT ngày 21/11/2025 của Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp xác định:

- Đối chiếu các quy định tại Điều 14 thông tư số 19/2018/TT-BNNPTNT ngày 15/11/2018 của Bộ trưởng Bộ N xác định: Khu vực ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp không thuộc danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản theo quy định hiện hành.

- Căn cứ Nghị định 26/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 tại Điều 7 Danh mục và tiêu chí xác định loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm xác định: Các loài cá lóc, cá trê, cá rô phi không thuộc danh mục loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm theo nghị định.

Ngoài ra còn thu giữ các vật chứng của vụ án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 62/2026/HS-ST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Quang T phạm tội “Huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 242; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 32; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 02 tháng 4 năm 2026, bị cáo Trần Quang T kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Quang T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xử, đồng thời giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong phần tranh luận phát biểu quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, mức án Tòa án cấp sơ thẩm tuyên đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới nên kháng cáo của bị cáo là không có căn cứ. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Quang T giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Quang T nộp trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Quang T đã thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản Bản án sơ thẩm đã xử, lời thừa nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 04/9/2025, tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp, Trần Quang T có hành vi xiệt (kích điện) xuống mương nước tại phần đất của anh Trần Hữu Q để khai thác cá thì bị phát hiện bắt giữ. Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp quy kết bị cáo Trần Quang T về tội “Huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản” theo điểm a khoản 1 Điều 242 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

. Xét kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý, bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên, môi trường sinh thái, sự tồn tại phát triển của nguồn lợi thuỷ sản, ngoài ra việc bị cáo sử dụng công cụ kích điện tạo ra dòng điện không có cơ chế đảm bảo an toàn còn có thể gây hại đến tính mạng, sức khoẻ của con người, ảnh hưởng an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có 01 tiền sự về hành vi sử dụng công cụ kích điện để khai thác thủy sản, đồng thời trước đó bị cáo đã từng bị xử phạt hành chính một lần về hành vi này nhưng bị cáo lại tiếp tục vi phạm, thể hiện sự xem thường pháp luật vì vậy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng để nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Nhận thấy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp hoặc bổ sung tình tiết gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do vậy không có căn cứ để xem xét cần thiết giữ nguyên án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Xét ý kiến và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quang T.

Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 62/2026/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Đồng Tháp.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Quang T phạm tội “Huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 242; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 32; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Quang T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt để thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Trần Quang T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ