vanban.org

Bản án 125/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Vi Hoàng N, sinh ngày 17-11-2020 cho chị Vi Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thị L - Hoàng Văn T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2026/HNGĐ - ST
Ngày: 25-8-2026
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thao

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Lâm

Bà Nguyễn Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Luyện - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 128/2026/TLST- HNGĐ ngày 07-4-2026 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 24-6-2026; quyết định hoãn phiên toà số: 62/2026/QĐST-HNGĐ ngày 16-7-2026, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vi Thị L, sinh năm 1982.

Số Căn cước: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Lào Cai.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1981

Số CCCD: xxxxxxxxxxxx.

Địa chỉ: Thôn C, xã K, tỉnh Lào Cai.

Các đương sự đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Vi Thị L trình bày: Chị và anh Hoàng Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 16-6-2023 tại UBND xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (nay là UBND xã Khánh Hoà, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, anh T hay uống rượu và có hành vi bạo lực gia đình với chị. Vợ chồng hiện đã ly thân không còn quan tâm đến nhau. Chị L xác định tình cảm vợ chồng đã hết, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn anh Hoàng Văn T.

Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Vi Hoàng N, sinh ngày 17-11-2020 hiện đang được chị nuôi dưỡng. Ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Toà án giải quyết

- Bị đơn là anh Hoàng Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có ý kiến thể hiện trong hồ sơ vụ án.

- Qua xác minh tại nơi cư trú cho thấy: Chị Vi Thị L và anh Hoàng Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (nay là UBND xã Khánh Hoà, tỉnh Lào Cai). Sau khi kết hôn, Chị L và anh T chung sống hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Chị L và anh T có 01 con chung là Vi Hoàng N, sinh ngày 17-11-2020 hiện đang được Chị L nuôi dưỡng. Chị L đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung.

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử

Căn cứ các Điều 51,56,57,81,82,83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ các Điều 147,227,228,238,271,273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

+ Về hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T.

+ Về con chung: Giao cháu Vi Hoàng N, sinh ngày 17-11-2020 cho chị Vi Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi.

Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

+ Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Hoàng Văn T có nơi cư trú tại xã Khánh Hoà, tỉnh Lào Cai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Lào Cai.

Tại phiên tòa, Chị L vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về hôn nhân: Chị Vi Thị L và anh Hoàng Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái (nay là UBND xã Khánh Hoà, tỉnh Lào Cai) ngày 16-6-2023 là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn Chị L và anh T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng hiện đã ly thân. Chị L xác định tình cảm vợ chồng đã hết và đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn. Từ thực tế cuộc sống hôn nhân cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa Chị L và anh T đã trầm trọng, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị L, cho Chị L được ly hôn anh T.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là Vi Hoàng N, sinh ngày 17-11-2020. Xét thấy, Chị L và anh T đã ly thân, cháu Ngân còn nhỏ và hiện đang được Chị L nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo quyền, lợi ích và sự ổn định cuộc sống của con nên giao cháu Ngân cho Chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Chị L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Chị Vi Thị L được ly hôn anh Hoàng Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Vi Hoàng N, sinh ngày 17-11-2020 cho chị Vi Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi theo quy định của pháp luật.

Anh Hoàng Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vi Thị L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí Chị L đã nộp theo biên lai số: 0001261 ngày 06-4-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Lào Cai. Chị L đã nộp đủ tiền án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,36 và 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 34 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ