vanban.org

Bản án 125/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 18/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Đào Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đào Bá L 03 (ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giam, ngày 31/01/2023. * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐÀO BÁ LẬP - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Đào Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật dân sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. B

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH Đ
–––––––––––––––
Bản án số:125/2023/HSST
Ngày 18-5-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. B, TỈNH Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Viết Thống

2. Bà Nguyễn Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. B, tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Bt tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tinh – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Tp. B, tỉnh Đ, xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số:105/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Đào Bá L; Tên gọi khác: L.

Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/9/1977; Tại: Tỉnh N.

Nơi thường trú: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh N.

Nơi cư trú: Không nơi ở nhất định.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Đào Bá L, sinh năm: 1948, trú tại: Xóm K, xã N, huyện N, tỉnh N; con bà: Trần Thị C (đã chết).

Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 01 tiền án. (Ngày 28/01/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 03 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản (bản án số 32/2013/HSST). Ngày 01/4/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ tuyên phạt y án sơ thẩm (bản án số 105/2013/HSPT). Ngày 15/9/2015 chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xóa án tích)

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 11/4/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 72/2007/HSST). Ngày 06/3/2008, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích.

Ngày 20/8/2008, bị Tòa án nhân dân huyện E, tỉnh Đ xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội Cướp giật tài sản (Bản án số 73/2008/HSST). Ngày 10/9/2009, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích.

Ngày 16/6/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 134/2010/HSST). Ngày 03/12/2010, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích..

Ngày 29/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 413/2015/HSST). Ngày 19/9/2016, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích.

Ngày 29/11/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 01 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản ( Bản án số 310/2016/HSST). Ngày 05/10/2017, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích.

Ngày 27/4/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 09 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 104/2018/HSST). Ngày 15/10/2018, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích.

Ngày 11/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 299/2019/HSST). Ngày 08/11/2020, chấp hành xong hình phạt tù, về địa phương sinh sống, đã được xóa án tích .

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, từ ngày 31/01/2023 cho đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B - Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Ngƣời bị hại: Anh Lê Thành T, sinh năm 1991 – Có đơn xin vắng mặt

Trú tại: 115A Giải Phóng, phường T, Tp. B, tỉnh Đ.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Mai Văn T, sinh năm 1995 – Vắng mặt

Trú tại: 227/86/1 Hà Huy Tập, P. T, Tp. B, tỉnh Đ.

- Anh Nguyễn Quốc D, sinh năm 1995 – Vắng mặt

Trú tại: 177 Y Moan Ênuôl, P. T, Tp. B, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 00 giờ 45 phút ngày 29/11/2022, Đào Bá L (viết tắt là Lập) đi bộ một mình trên các tuyến đường thuộc địa bàn thành phố B, mục đích là để trộm cắp tài sản. Khi Lđi đến nhà của anh Lê Thành T, địa chỉ: 115A Giải Phóng, phường T, thành phố B, phát hiện bên trái căn nhà có bãi đất trống, không có ai trông coi nên Lđi đến trèo qua tường rào vào trong sân. Lmở cửa bên hông nhà (lúc này cửa không khóa) đột nhập vào phòng bếp trộm cắp tài sản của anh Tâm, gồm: 01 ví da màu đen, loại ví gập đôi, trên ví có in dòng chữ CROCODILE, bên trong có số tiền 2.300.000 đồng của anh Tâm. Sau đó, Lđi đến phòng khách trộm cắp 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 15-3552, màu đen, màn hình 15,6 inch kèm theo 01 bộ sạc máy tính hiệu Dell màu đen rồi tẩu thoát về phòng trọ của mình, ở tại địa chỉ: 175/29 Y Moan Ênuôl, phường T, thành phố B. Còn anh Lê Thành T, sau khi phát hiện bị mất tài sản đã làm đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 224/KL-HĐĐGTS ngày 07/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

- 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 15-3552, màu đen, màn hình 15,6 inch, kèm theo 01 bộ sạc máy tính hiệu Dell màu đen, trị giá: 2.200.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 34/KL-HĐĐGTS ngày 03/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố B, kết luận:

- 01 ví dạng da màu đen, loại ví gập đôi, trên ví có in dòng chữ CROCODILE, trị giá: 50.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 124/CT-VKS ngày 17/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân Tp. B, tỉnh Đăk Lăk đã truy tố các bị cáo Đào Bá L về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. B đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lnhư nội dung cáo trạng, đồng thời đưa ra tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đào Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm h.s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Đào Bá L mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo không có ý kiến đối đáp tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an Tp. B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Tp. B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo L tại phiên tòa hôm nay về cơ bản là phù hợp với lời khai bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh truy tố, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo L là có căn cứ, đúng pháp luật.

Như vậy đã có đủ cơ sở để khảng định: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác, nên vào khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 29/11/2022, tại nhà của anh Lê Thành T, ở địa chỉ: 115 A Giải Phóng, phường T, thành phố B, bị cáo Đào Bá L đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Lê Thành T với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 4.550.000 đồng. Bao gồm: 01 máy tính xách tay hiệu Dell, kèm theo 01 bộ sạc máy tính, trị giá 2.200.000 đồng; 01 ví da màu đen, trị giá 50.000 đồng và số tiền 2.300.000 đồng.

Hành vi trên đây của bị cáo L đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

g) Tái phạm nguy hiểm”.

…

Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo không những đã chiếm đoạt trái phép tài sản của người khác mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và nhận thức, nên phải nhận thức được rằng; tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm và bảo vệ; mọi hành vi chiếm đoạt tài sản trái phép tài sản của người khác sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, thói lười biếng lao động, muốn được hưởng thụ trên công sức lao động của người khác và vì động cơ vụ lợi cho nên bị cáo Lđã thực hiện trộm cắp tài sản của anh Lê Thành T, các tài sản có tổng trị giá là 4.550.000 đồng (Bốn triệu năm trăm năm mươi ngàn đồng). Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án, ngày 28/01/2013 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 03 năm tù, về tội Trộm cắp tài sản (Bản án số 32/2013/HSST). Ngày 01/4/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ tuyên phạt y án sơ thẩm (Bản án số 105/2013/HSPT). Ngày 15/9/2015 chấp hành xong hình phạt tù, nhưng chưa được xóa án tích (do chưa thi hành xong các khoản tiền án phí). Ngoài ra bị cáo còn có 07 bản án về các tội cướp giật tài sản và trộm cắp tài sản, (đều đã được xóa án tích). Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tiếp thực hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 BLHS là phù hợp

Tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h,s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã nhận định nêu trên. Hội đồng xét xử xét thấy; cần cách ly bị cáo Lra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, có như vậy mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Các biện pháp tƣ pháp:

- Về xử lý vật chứng:

Quá trình điều tra xác định, 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 15-3552, màu đen, kèm theo 01 bộ sạc máy tính hiệu Dell màu đen và 01 ví da màu đen, trên ví có in dòng chữ CROCODILE, là tài sản thuộc sở hữu của anh Lê Thành T. Ngày 16/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại các tài sản trên cho anh Tlà phù hợp

Đối với 01 bao tải màu xanh, kích thước (110x60)cm là công cụ bị cáo Đào Bá L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bị hại anh Lê Thành T yêu cầu bị cáo Đào Bá L phải bồi thường số tiền 2.300.000 đồng (là tiền bị cáo Lđã trộm cắp của anh Tâm), bị cáo chưa bồi thường. Vì vậy nên cần buộc bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt nói trên cho anh Lê Thành T là phù hợp

Về án phí Hình sự sơ thẩm:

Bị cáo Đào Bá L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với khoản tiền phải bồi thường cho người bị hại theo quy định của pháp luật.

* Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Đào Bá L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đào Bá L 03 (ba) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giam, ngày 31/01/2023.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận ngày 16/3/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. B đã trả lại 01 máy tính xách tay hiệu Dell Inspiron 15-3552, màu đen, kèm theo 01 bộ sạc máy tính hiệu Dell màu đen và 01 ví da màu đen, trên ví có in dòng chữ CROCODILE, cho anh Lê Thành T là chủ sở hữu hợp pháp.

Tịch thu, tiêu huỷ vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm có: 01 bao tải màu xanh, kích thước (110x60)cm là công cụ bị cáo Đào Bá L sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.

(Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp. B và có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, ngày 17/5/2023, .giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Tp. B và Chi cục Thi hành án dân sự Tp. B)

* Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 585; 586; 589 Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Đào Bá L phải bồi thường cho anh Lê Thành T số tiền 2.300.000 đồng (Hai triệu ba trăm ngàn đồng).

Áp dụng khoản 2 Điều 357 bộ luật dân sự để tính lãi suất trong giai đoạn thi hành án.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đào Bá L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. *Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKS tỉnh; TA tỉnh Đ;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở Tư pháp tỉnh Đ;

- VKS Tp. B;

- CA Tp. B;

- CCT.H.A dân sự; T.H.A hình sự;

- Bị cáo; đương sự;

- Lưu hồ sơ; lưu VP.

- Vụ Giám đốc kiểm tra I – TANDTC;

NGUYỄN QUANG CẢNH

*

Cỡ chữ