vanban.org

Bản án 125/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 22/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn H xe ô tô biển số 49C-114.37, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014646 của xe ô tô biển số 49C-114.37 do Ph… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn H phạm tội Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2023/HS-ST
Ngày: 22-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Ngọc Tuấn

2/ Ông Nguyễn Đình Phi

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Non - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn H, sinh năm 1987; nơi sinh: Lâm Đồng; nơi ĐKNKTT và cư trú: Số 180/16 Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Gi, sinh năm 1959, con bà: Nguyễn Thị T, sinh năm 1964; gia đình có 04 anh em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1994; vợ: Nguyễn Thị Hòa, sinh năm 1988, con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam, hiện bị cáo đang được tại ngoại. Có mặt

* Bị hại:

- Ông Hoàng Thanh T, sinh năm 1985

Trú tại: Số 180/1 Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Lê Xuân T, sinh năm 1970

Trú tại: Số 920 Quốc lộ 20, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Ông Lưu Ngọc T, sinh năm 1988

Trú tại: Số 190B Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

- Ông Nguyễn Đăng T, sinh năm 1993

Trú tại: Số ½ Lữ Gia, phường 9, thành phố Đ L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1988

Trú tại: Số 180/16 Hoàng Văn Thụ, thị trấn L N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ ngày 14/11/2022, Nguyễn H điều khiển xe ô tô của Hoàng có biển số 79A-347.82 đi về nhà. Khi đi đến đầu hẻm 180 Hoàng Văn Thụ, tổ 14, TT L N, Đ thì xe bị chết máy. Hoàng đi bộ về nhà lấy xe ô tô biển số 49C.114.37 chạy ra để kéo xe biển số 79A-347.82 lên nhưng không được, nên Hoàng điều khiển xe ô tô biển số 49C.114.37 đi về nhà ngủ. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, H nghe tiếng ồn ào bên ngoài đường nên đi ra xem thì thấy Ngô Minh T đang điều khiển xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 để kéo xe của H lên nhưng không được mà còn khiến xe ô tô của Hoàng bị chà sát vào tường bên đường. Thấy vậy, do bực tức vì xe thường xuyên bị hư hỏng H nảy sinh ý định làm hư hỏng xe ô tô biển số 79A-347.82 của mình. Thực hiện ý định đó, H đi về nhà rồi điều khiển xe ô tô biển số 49C-114.37 chạy ra tông thẳng vào phần đầu của xe ô tô biển số 79A-347.82. Sau khi xác định đã tông trúng, H tiếp tục thực hiện thao tác lùi xe lại khoảng 10m, do không làm chủ được bản thân nên H tiếp tục điều khiển xe tông thêm 02 lần nữa khiến cho xe ô tô biển số 79A-347.82 va chạm vào bức tường rào của bãi giữ xe ô tô. Hậu quả: bức tường rào xây bằng gạch có kích thước 8,3x2,6x0,1m của bãi giữ xe do ông Hoàng Thanh T làm chủ bị đổ sập hoàn T; Xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 do Ngô Minh Tiến điều khiển bị bể răng và cốt trục mâm xoay; Các xe ô tô đậu trong bãi giữ xe bị hư hỏng, cụ thể: xe ô tô biển số 49C-286.78 của ông Lưu Ngọc T bị bể kính chắn gió phía trước và bị trầy xước, hư hỏng nhẹ ở nắp capo, cản trước, ốp gò má, xương trụ kính chắn gió trước; xe ô tô biển số 49C- 040.30 của ông Phạm Ngọc H bị bể kính chắn gió phía trước, gương chiếu hậu bên phải, tay nắm cửa trước bên phải của xe bị trầy xước, móp méo, cánh cửa trước bên phải và bên trái bị móp, biến dạng, trụ kính chắn gió bên phải bị móp, nắp capo bị móp và trầy xước, cản trước bên phải và bên trái xe bị trầy xước.

Bản kết luận định giá tài sản số: 148/KL-HĐĐG ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt của bức tường có kích thước là 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số: 149/KL-HĐĐG ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô biển số 49C-040.30 là 3.628.800 đồng (Ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn tám trăm đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐG ngày 22/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô biển số 49C-286.78 là 8.400.000 đồng (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).

Bản kết luận định giá tài sản số: 151/KL-HĐĐG ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 là 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng).

Tình tiết giảm nhẹ: Qúa trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại cho các bị hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tang vật của vụ án: Qúa trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tạm giữ và trả lại xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 cho chủ sở hữu là ông Lê Xuân T, trả xe ô tô biển số 49C-286.78 cho chủ sở hữu là ông Lưu Ngọc T, xe ô tô biển số 49C- 040.30 cho ông Phạm Ngọc Hồ, xe ô tô biển số 79A-347.82 cho bà Nguyễn Thị H. Chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ xe ô tô biển số 49C-114.37, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014646 của xe ô tô biển số 49C-114.37 (bản chính).

Trách nhiệm dân sự: Nguyễn H đã bồi thường thiệt hai cho ông Hoàng Thanh T số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho ông Lê Xuân T 22.000.000đ, bồi thường cho ông Lưu Ngọc T số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho ông Nguyễn Đăng T (nhận ủy quyền của ông Phạm Ngọc H) 35.000.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 06 tháng 6 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị hoàn trả cho bị cáo Nguyễn H xe ô tô biển số 49C-114.37, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014646 của xe ô tô biển số 49C-114.37 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/5/2016 (bản chính).

Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, thừa nhận T bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hoạt động điều tra, truy tố của điều tra viên, kiểm sát viên thì thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn H đã khai nhận T bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 14/11/2022, bị cáo Nguyễn H điều khiển xe ô tô của vợ chồng H có biển số 79A-347.82 chở vợ con đi từ nhà bạn về nhà. Khi đi đến đầu hẻm 180 Hoàng Văn Thụ, tổ 14, TT L N, Đ thì xe bị chết máy, bị cáo H đi bộ về nhà lấy xe ô tô biển số 49C.114.37 chạy ra để kéo xe biển số 79A-347.82 lên nhưng không được, nên bị cáo H điều khiển xe ô tô biển số 49C.114.37 đi về nhà ngủ. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo H nghe tiếng ồn ào bên ngoài đường nên đi ra xem thì thấy ông Ngô Minh T (là nhân viên lái xe cứu hộ của ông Lê Xuân T) đang điều khiển xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 để kéo xe của H lên nhưng không được mà còn khiến xe ô tô của H bị chà sát vào tường bên đường. Do bực tức về việc chiếc xe biển số 79A-347.82 của mình thường xuyên hư hỏng nên bị cáo H đã sử dụng chiếc xe ô tô biển số 49C-114.37 của vợ chồng H chạy ra tông thẳng vào phần đầu của xe ô tô biển số 79A-347.82, sau đó bị cáo H tiếp tục lùi xe lại khoảng 10m, tiếp tục điều khiển xe tông thêm 02 lần nữa khiến cho xe ô tô biển số 79A-347.82 va chạm vào bức tường rào của bãi giữ xe ô tô của ông Hoàng Thanh T khiến bức tường rào xây bằng gạch có kích thước 8,3x2,6x0,1m của bãi giữ xe bị đổ sập hoàn T; Xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 do Ngô Minh T điều khiển bị bể răng và cốt trục mâm xoay; Các xe ô tô đậu trong bãi giữ xe bị hư hỏng, cụ thể: xe ô tô biển số 49C-286.78 của ông Lưu Ngọc T bị bể kính chắn gió phía trước và bị trầy xước, hư hỏng nhẹ ở nắp capo, cản trước, ốp gò má, xương trụ kính chắn gió trước; xe ô tô biển số 49C- 040.30 của ông Phạm Ngọc H bị bể kính chắn gió phía trước, gương chiếu hậu bên phải, tay nắm cửa trước bên phải của xe bị trầy xước, móp méo, cánh cửa trước bên phải và bên trái bị móp, biến dạng, trụ kính chắn gió bên phải bị móp, nắp capo bị móp và trầy xước, cản trước bên phải và bên trái xe bị trầy xước.

- Bản kết luận định giá tài sản số: 148/KL-HĐĐG ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt của bức tường có kích thước là 3.700.000 đồng (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Bản kết luận định giá tài sản số: 149/KL-HĐĐG ngày 21/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô biển số 49C-040.30 là 3.628.800 đồng (Ba triệu sáu trăm hai mươi tám nghìn tám trăm đồng).

- Bản kết luận định giá tài sản số: 150/KL-HĐĐG ngày 22/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô biển số 49C-286.78 là 8.400.000 đồng (Tám triệu bốn trăm nghìn đồng).

- Bản kết luận định giá tài sản số: 151/KL-HĐĐG ngày 20/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ xác định giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 là 6.300.000 đồng (Sáu triệu ba trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi của bị cáo Nguyễn H gây ra là 22.028.800 đồng (Hai mươi hai triệu không trăm hai mươi tám nghìn tám trăm đồng).

Xét thấy, lời khai của bị cáo, bị hại tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng vụ án, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn H đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự 2015.

Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo nhận thức rõ tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hội đồng xét xử xét thấy cần có một bản án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới thoả đáng.

Xét về vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự mình thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải tự chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục T bộ thiệt hại cho các bị hại và được bị hại viết đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bố bị cáo là ông Nguyễn Văn Gi được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba. Ngoài ra bị cáo đã có thành tích xuất sắc trong quá trình lao động, bị cáo được Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tặng giấy khen trong công tác hỗ trợ phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Từ những phân tích nhận định trên, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, nhất thời phạm tội nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho ông Hoàng Thanh T số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho ông Lê Xuân T 22.000.000đ, bồi thường cho ông Lưu Ngọc T số tiền 10.000.000đ, bồi thường cho ông Nguyễn Đăng T (nhận ủy quyền của ông Phạm Ngọc H) số tiền 35.000.000đ. Những người bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tạm giữ và trả lại xe ô tô cẩu biển số 49C-220.04 cho chủ sở hữu là ông Lê Xuân T, trả xe ô tô biển số 49C-286.78 cho chủ sở hữu là ông Lưu Ngọc T, xe ô tô biển số 49C- 040.30 cho ông Phạm Ngọc Hồ, xe ô tô biển số 79A-347.82 cho bà Nguyễn Thị H nên không xem xét.

Đối với xe ô tô biển số 49C-114.37, giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014646 của xe ô tô biển số 49C-114.37 (bản chính). Xét thấy đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo dùng để phục vụ cuộc sống chung của gia đình nên cần hoàn trả cho bị cáo Nguyễn H là phù hợp.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn H xe ô tô biển số 49C-114.37, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 014646 của xe ô tô biển số 49C-114.37 do Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 24/5/2016 (bản chính).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/5/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn H phải chịu án 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Những người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ