- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa ông Nguyễn Hoàng Nam với bà Nguyễn Thị Phượng"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-9-2023 V/v Ly hôn giữa ông N và bà P. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Đông Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Nhựt Thảo
Bà Nguyễn Thị Ngọc Thơ
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương là Thư ký Tòa án nhân
dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên
tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 131/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng
4 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
197/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông N H N, sinh ngày 16-12-1993
CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 20-8-2022
Nơi cư trú: Số nhà 825, Ấp N, xã A P, huyện T B, tỉnh Đồng Tháp.
Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 17-8-2023
2. Bị đơn: Bà N T P, sinh ngày 15-7-1999
CMND số xxxxxxxxx cấp ngày 16-10-2014
Nơi cư trú: Tổ 31, ấp V T, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang.
Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện xin ly hôn, Tờ tự khai ngày ngày 28-3-2023, Đơn xin xét
xử vắng mặt ngày 17-8-2023, nguyên đơn ông N H N trình bày:
+Về hôn nhân: Ông và bà N T P kết hôn vào năm 2017, hôn nhân do mai
mối, có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn trễ hạn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang số 98, ngày 14-10-2019. Sau khi cưới vợ chồng sống bên chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc khoảng 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tiền bạc. Sau khi sinh con đầu năm 2020, vợ và con về bên ngoại sinh sống cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay nay. Nay ông nhận thấy không còn tình cảm với bà P, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với bà N T P.
+Về con chung: Có 01 con chung tên N T N, sinh ngày 14-9-2019. Hiện bà
P đang nuôi con. Khi ly hôn ông đồng ý để bà P được tiếp tục nuôi con.
+Về cấp dưỡng nuôi con: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và 2
lần thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho bà N T P, nhưng bà P vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21-7-2023, người làm chứng bà P T K L
trình bày: Bà là mẹ ruột của N T P. P hiện đang sinh sống tại nhà bà thuộc Tổ 31, ấp V T, xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang. P – N tổ chức đám cưới năm 2018, hôn nhân do mai mối, có đăng ký kết hôn; sau khi cưới P – N sinh sống tại nhà cô chồng ở thành phố M T, tỉnh Tiền Giang. Năm 2020, P về nhà bà sinh sống; do hai đứa không hợp tính, thường hay cải nhau. P – N có một con chung tên N T N, sinh ngày 14-9-2019, hiện P đang nuôi con. N hàng tháng có gửi tiền cho P phụ giúp nuôi con. P – N không có tài sản chung, không có nợ chung.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang phát
biểu quan điểm như sau:
1/Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét
xử trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự.
2/Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung tiếp tục ổn định cho bà Phượng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn ông N, bị đơn bà P, Tòa án đã
tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa; nguyên đơn ông N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà P vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung đối với nguyên đơn ông
N và bị đơn bà P.
[2] Về hôn nhân: Ông N và bà P kết hôn năm 2019, hôn nhân do mai mối,
có tổ chức đám cưới. Có đăng ký kết hôn tại UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An
Giang số 98, ngày 14-10-2019 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014, nên hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Ông N
có yêu cầu ly hôn. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tổ chức hòa giải để hàn gắn lại
tình cảm giữa ông N và bà P, nhưng bà P nhiều lần vắng mặt nên không hòa giải
được.
Xét thấy: Từ năm 2020 giữa ông N và bà P phát sinh nhiều mâu thuẫn do
tính tình không hợp nhau, thường hay cự cải, từ đó dẫn đến bất đồng trong tình
cảm vợ chồng, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Từ năm 2020, ông N và
bà P sống ly thân cho đến nay. Từ khi sống ly thân cho đến nay cả ông N và bà
P đều không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Điều này cho thấy mâu
thuẫn giữa ông N và bà P là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục
đích hôn nhân không đạt được. Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 1
Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Hội đồng xét xử xét thấy nên
chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông N được ly hôn với bà P là có căn cứ
và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Ông N và bà P có 01 con chung. Hiện bà P đang nuôi
con. Khi ly hôn ông N đồng ý để bà P được tiếp tục nuôi con.
Xét thấy: Cháu N chỉ gần 4 tuổi, hiện bà P nuôi con chu đáo. Đối chiếu với
quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014. Vì vậy, để không làm thay đổi cuộc sống cũng như sự phát triển tâm sinh
lý của cháu; Hội đồng xét xử xét thấy nên để cho bà P được tiếp tục nuôi dưỡng
con chung là phù hợp.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Ông N trình bày tự thỏa thuận; bà P không có ý
kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Ông N trình bày không có, bà P không có ý
kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147
của Bộ Luật Tố tụng Dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội
khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Toà án, nguyên đơn ông N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia
đình sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Đối chiếu với quy định của pháp luật tại Điều 271
và Điều 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn ông N, bị đơn bà P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 4 Điều 147; Các Điều 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự;
Các Điều 9, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14
ngày 30-12-2016, của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Xử:
[1] Về hôn nhân: Ông N H N được ly hôn với bà N T P.
Giấy chứng nhận kết hôn số 98, ngày 14-10-2019 của UBND xã V A,
huyện C T, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.
[2] Về con chung: Bà N T P được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên N T N,
sinh ngày 14-9-2019.
Bà N T P và các thành viên trong gia đình bà P không được cản trở ông N
H N trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định tại khoản 2 Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông N H N lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu
đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà P có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của ông N theo quy định tại khoản 3 Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về án phí: Nguyên đơn ông N H N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân
gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0004247 ngày 14-4-2023 của Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn ông N H N, bị đơn bà N T P vắng
mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Các điều 6, 7 và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự (để thi hành); -Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành; -Chi Cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Thành; -Phòng Kiểm tra Nghiệp vụ - Thi hành án, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; -Cơ quan thực hiện việc đăng ký kết hôn (UBND xã V A, huyện C T, tỉnh An Giang; -Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Đông Hoà |