- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị D về việc xin ly hôn với ông Phan Phước T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28-01-2021 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thái Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dũng;
2. Bà Võ Thị Tuyết.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Xuân Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân: Bà Nguyễn Thị Thu – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 01 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1348/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 269/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 12 năm 2020 giữa:
1. Nguyên đơn: bà Thạch Thị D, sinh năm 1994
Địa chỉ: đường Q, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Bị đơn: ông Phan Phước T, sinh năm 1988
Địa chỉ: đường Q, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn nộp cho Tòa án ngày 29 tháng 9 năm 2020 và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là bà Thạch Thị D trình bày: Bà và ông Phan Phước T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thiên Thừa Huế theo giấy chứng nhận kết hôn số 65/2013 ngày 28/11/2013. Quá trình chung sống không có hạnh phúc do ông T không quan tâm, chăm sóc vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cãi nhau. Nay bà xác định khả năng đoàn tụ không có và tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với ông T. Về con chung: Có hai con chung là Phan Khánh N (sinh ngày 25/11/2014) và Phan Phước N (sinh ngày 10/11/2016), bà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng các con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Phan Phước T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng thủ tục và trình tự phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về yêu cầu của đương sự, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Thạch Thị D và ông Phan Phước T có đăng ký kết hôn, ngày 29/9/2020 bà D nộp đơn xin ly hôn với ông T tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”. Bị đơn cư trú tại quận Bình Tân nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân.
Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Thạch Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Phan Phước T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà D và ông T chung sống và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật (Giấy chứng nhận kết hôn số 65/2013 do Ủy ban nhân dân phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 28/11/2013) nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp.
Theo lời trình bày của bà D nhận thấy: Bà D và ông T là vợ chồng nhưng không thương yêu, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau, không cùng nhau chăm lo hạnh phúc gia đình, dẫn đến mâu thuẫn từ năm 2019 cho đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng có lúc xảy ra bất hòa là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên nền tảng để giữ hôn nhân bền vững phải xuất phát từ tình yêu, từ sự cảm thông chia sẻ để cùng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Trong quá trình chung sống muốn tạo dựng hạnh phúc phải biết thương yêu, chăm sóc, tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, phải chung thủy và cùng nhau nuôi dạy con cái, cùng làm kinh tế gia đình để ổn định cuộc sống. Trường hợp của bà D và ông T thấy rằng, khi mâu thuẫn xảy ra ông bà đã không tìm được tiếng nói chung, không tìm cách giải quyết ngay mà để mâu thuẫn kéo dài dẫn đến những mâu thuẫn tiếp theo và lựa chọn giải pháp sống ly thân. Tại phiên tòa hôm nay ông T vẫn vắng mặt, không có thiện chí hàn gắn gia đình. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã không thể giải quyết, mục đích hôn nhân không đạt được nên khả năng đoàn tụ giữa bà D và ông T không còn. Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
- Về con chung: Có hai con chung là Phan Khánh N (sinh ngày 25/11/2014) và ông Phan Phước N (sinh ngày 10/11/2016). Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay hai trẻ đang sống với bà D, điều kiện môi trường sống, sinh hoạt và học tập đã ổn định, không nên thay đổi làm xáo trộn cuộc sống của của trẻ nên có cơ sở chấp nhận để bà D trực tiếp nuôi dưỡng hai con là Phan Khánh N, Phan Phước N. Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con, nên không xem xét.
- Về tài sản chung và về nghĩa vụ dân sự chung: Bà D xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 và khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273, khoản 1, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị D về việc xin ly hôn với ông Phan Phước T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Thạch Thị D được ly hôn với ông Phan Phước T. Quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật, khi đó Giấy chứng nhận kết hôn số 65/2013 quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày ngày 28/11/2013 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà Thạch Thị D trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Phan Khánh N (sinh ngày 25/11/2014) và Phan Phước N (sinh ngày 10/11/2016).
- Về cấp dưỡng nuôi con: Bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi các con, nên không xem xét.
Ông T có quyền thăm nom các con, không ai được cản trở ông T thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, trong trường hợp không bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền thăm nom con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà D xác định không có, nên không xem xét.
2. Án phí: Bà D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà D đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0062006 ngày 01/10/2020 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân. Bà D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bà D, ông T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
3. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - VKSND quận Bình Tân; - VKSND TP. Hồ Chí Minh; - TAND TP. Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS quận Bình Tân; - UBND nơi cấp giấy chứng nhận kết hôn; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thái Bình |