- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tr, Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Tr 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 04/7/2020).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/2020/HSST Ngày: 15-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Kiều Hương.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thùy Linh và ông Nguyễn Thế Anh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Hoàng Anh – Thư ký Toà án nhân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2020/HSST, ngày 20 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 179/2020/HSST-QĐ ngày 04 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Tr (tên gọi khác: không); Sinh ngày: 15/6/1986; Nơi cư trú: Xóm n, xã DT, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn D (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1954; Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1993 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/7/2020.
* Người bị hại: Anh Hoàng Thanh T, sinh năm 1988
Trú tại: xóm v, xã DL, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
* Người làm chứng:
1. Anh Trần Đức T, sinh năm 1990
(vắng mặt)
Nơi cư trú: xóm m xã DL, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An
2. Chị Trần Thị T, sinh năm 1987;
(vắng mặt)
Nơi cư trú: xóm v, xã DL, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 7 giờ 00’ ngày 04/7/2020, Nguyễn Văn Tr đi bộ đến cửa hàng điện thoại di động “Hoàng Tâm” thuộc xóm v, xã DL, huyện Diễn Châu với mục đích trộm cắp tài sản. Sau khi quan sát thấy bên trong cửa hàng không có người trông coi nên Tr đi vào cửa hàng và đến mở tủ kính lấy trộm 01 chiếc điện thoại di dộng hiệu Iphone XS-max màu đen bỏ vào túi quần. Lấy được điện thoại, Tr đi đến quầy thu ngân thì gặp anh Trần Đức T (nhân viên thu ngân) đi đến, T hỏi “anh đến quán mua gì”, Tr trả lời “mua thẻ điện thoại”, anh Tài gọi chị Trần Thị T (vợ anh T) ra bán thẻ điện thoại cho T. Vừa lúc đó có anh Hoàng Thanh T (chủ cửa hàng Hoàng Tâm) đi đến, anh T đã chuyển cho Tr 300.000 đồng vào tài khoản thẻ điện thoại cho T. Sau đó Trường mang chiếc điện thoại vửa trộm được về nhà nghỉ 82 (nơi Tr thuê lưu trú). Đến khoảng 7 giờ 30 phút, chị T phát hiện mất 01 chiếc điện thoại Iphone XS-max màu đen, số Imei1: 357270091238129, Imei2: 357270091096774, dung lượng 64Gb, xuất xứ nước ngoài, đã qua sử dụng đặt trên hộp màu trắng ở ngăn thứ 3 từ dưới lên của tủ kính, chị Tr đã kiểm tra camera an ninh tại cửa hàng và phát hiện 1 nam thanh niên đã lấy trộm điện thoại nên đã trình báo sự việc lên công an xã DL. Đến 10 giờ 15 phút cùng ngày, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Nguyễn Văn Tr đã đến trụ sở Công an xã DL đầu thú và giao nộp tài sản trộm cắp.
Kết luận định giá tài sản ngày 06/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Diễn Châu xác định: Trị giá chiếc điện thoại di động mà bị cáo Nguyễn Văn Tr chiếm đoạt là 9.500.000 đồng.
* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Hoàng Thanh T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.
* Về vật chứng đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS-max, màu đen, số imei1 357270091238129, Imei2: 357270091096774, dung lượng 64Gb; (đã trả lại cho chủ sở hữu);
01 điện thoại di động hiệu Samsung J6; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31 màu xanh lơ và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A83 màu vàng hồng; qua xác minh cả 3 chiếc điện thoại đều của chị Nguyễn Thị T (vợ của bị cáo), cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 132/CT-VKSDC ngày 18/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Nguyễn Văn Tr về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự 2015;
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1; khoản 2 Điều 51; điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr từ 04 (bốn) đến 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: người bị hại không có yêu cầu nên không xem xét.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi thực hiện đúng như cáo trạng truy kết, các kết luận định giá tài sản và nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về hoạt động “Điều tra” “Truy tố”, đồng thời đã giải thích và tạo điều kiện để bị cáo, người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng và đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như cáo trạng truy tố.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người bị hại, các chứng cứ, tài liệu thu thập có tại hồ sơ vụ án và diễn biến khách quan của vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 7 giờ 00 ngày 04/7/2020, tại cửa hàng điện thoại “Hoàng Tâm” do anh Hoàng Thanh T làm chủ, thuộc khu vực xóm 2 xã Diễn Lâm, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn Tr đã lợi dụng sơ hở của chủ tài sản trong việc trông coi tài sản, đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS-max, trị giá 9.500.000đ (chín triệu năm trăm ngàn đồng). Bị cáo Tr là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét tính chất vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang bất an đối với người dân.
- Tình tiết tăng nặng: không
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã tự nguyện đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo hành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, tự nguyện trả lại tài sản cho chủ tài sản. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần áp dụng khoản 2 Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1; khoản 2 điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự;
- Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn Tr 04 (bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo (ngày 04/7/2020).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tr phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơinhận:
| - Bị cáo; - Những người TGTT; - VKS huyện Diễn Châu; - VKS tỉnh Nghệ An; - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện (NVCS); - Chi cục THA dân sự h.Diễn Châu; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + lưu trữ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đoàn Thị Kiều Hương |