vanban.org

Bản án 125/2019/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội "Trộm cắp tài sản". [3] Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2019/HSST
Ngày: 16 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Trần Thị Thu Hiền – Giáo viên Trường tiểu học Hiệp Tân, quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh;

2/ Bà Phạm Thị Nhung – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân

quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí

Minh tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Thoa – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 118/2019/HSST ngày 24 tháng 9 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2019/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân S; sinh năm 1982, tại: Đồng Nai; trường trú tại: 40 đường số 0, phường 10, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Học, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị Thanh Hiến, sinh năm 1958; vợ: Kiều Thị Thân, sinh năm: 1986; con: có 02 người con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015);

- Tiền án: không;

- Tiền sự: ngày 01/3/2016 bị Tòa án nhân dân quận 12 áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 18/9/2017 chấp hành xong; ngày 26/9/2018 bị Công an phường 14, quận Tân Bình xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi sử dụng tái phép chất ma túy;

- Nhân thân: ngày 09/9/2003 bị Tòa án nhân nhân TP. Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/3/2006 ;

Bị bắt tạm giam từ ngày: 11/6/2019. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh và có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

1. Anh Võ Th, sinh năm: 1971 ; trú tại: 49/7K Quang Tr, phường 8, quận Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

2. Anh Đinh Viết T, sinh năm : 1970; trú tại: 85/4 ấp Thống N, phường Tân Thới Nhì, huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Phan Tấn Đ, sinh năm 1984; trú tại: 46/2 Nguyễn Trung Tr, khu phố 8, thị trấn Dương Đông, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Hoài Th, sinh năm: 1984; trú tại: 1198/8 Lạc Long Q, phường 8, quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 09/6/2019 Nguyễn Xuân S nhờ Đào Văn H chở đến siêu thị điện máy Thiên Hòa trên đường Âu C, phường Tân Thành, quận Tân Phú. Đến khoảng 13 giờ 40 phút cùng ngày, S phát hiện anh Võ Th điều khiển xe mô tô, hiệu Yamaha Sirius, biển số: 68T6-8145 đậu bên hông lô B chung cư Âu Cơ Tower địa chỉ 659 Âu C, phường Tân Thành, quận Tân Phú nhưng không có người trông coi. S tiếp cận thấy xe khóa cổ nên lấy công cụ bẻ khóa sau đó nổ máy xe chạy về nhà của Hoàng ở 76/11 Tân H, phường Tân Quý, quận Tân Phú. S không nói cho H biết việc S mới trộm được xe. Sau đó, S điện thoại cho Hoài (chưa rõ lai lịch) nói việc mới trộm được xe và xin Hoài 01 biển số khác để gắn vào xe để tránh bị phát hiện, Hoài đồng ý. Khoảng 17 giờ cùng ngày, S điều khiển xe Sirius vừa trộm được đến gặp Đặng Minh N là thợ sửa khóa tại số 162 Tân H, phường Tân Quý, quận Tân Phú làm 01 chìa khóa xe để sử dụng. Sau đó, S đi gặp H tại đường kênh 19/5 quận Bình Tân để thay biển số xe H cho 59N2-073.06 vào xe Sirius trộm được để sử dụng.

Khoảng 19 giờ cùng ngày, S điều khiển xe mô tô Sirius (trộm của anh Võ Th), biển số 59N2-073.06 đến nhà H thì gặp Nguyễn Hoài Th. S và Th bàn bạc nhau đi trộm cắp tài sản, S dùng xe mô tô Sirius chở Th đi tìm tài sản để trộm. Đến khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi đang lưu thông trên đường Lê L thì S phát hiện và chỉ Th thấy xe mô tô Wave S, biển số 54U4-521 của anh Đinh Viết Th đang dựng trước nhà số 174 Lê L, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú không người trông coi. Lúc này, S điều khiển xe dừng cách nhà 174 Lê L khoảng 20m để cảnh giới, Th đi bộ tiếp cận xe Wave S rồi bẻ khóa và nổ máy xe chạy thoát. Cả hai chạy xe về nhà H thì gặp Huấn (chưa rõ lai lịch). Tại đây, S và Th kể lại toàn bộ sự việc vừa trộm được xe Wave S cho Huấn biết. Lúc này, Huấn đề nghị mua xe Wave S với giá 2.600.000 đồng, S và Th đồng ý rồi giao xe cho Huấn. Sau đó, Th mua ma túy của Huấn để cùng nhau sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 203/KL-HĐĐGTS-TTHS ngày 27/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban quận Tân Phú xác định: 01 xe mô tô Yamaha Sirius, trị giá: 4.000.000 đồng; 01 xe mô tô Honda Wave S, trị giá 4.000.000 đồng. Tổng trị giá: 8.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô Yamaha Sirius mà S trộm cắp của anh Võ Th. Xe này anh Th mượn của anh Phan Tấn Đ, nên Cơ quan điều tra lập biên bản giao trả chiếc xe trên cho anh Đ. Anh Th và anh Đ không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đối với 01 xe mô tô Honda Wave S, sau khi bị cáo cùng đồng bọn trộm được của anh Đinh Viết Th đã đem bán cho một người tên Huấn (chưa rõ lai lịch) đến nay chưa thu hồi được. Anh Th yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường 8.000.000 đồng;

Vật chứng:

- 01 xe mô tô Yamaha Sirius, số máy: 3S31-032030, số khung: RLC3S3106Y032030. Kết quả xác minh xe do anh Phan Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu và anh Đạt cho anh Võ Th mượn sử dụng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản giao trả cho anh Đ.

- 01 chìa khóa số 10 dùng sửa xe bằng kim loại và 01 thanh kinh loại hình trụ tròn, có một đầu dep dài 20cm, đường kính 0,7cm (là công cụ S dùng bẻ khóa xe);

- 01 chìa khóa xe Yamaha mã Y80 (S đặt anh Ngọc là thợ sửa chìa khóa làm để sử dụng);

- 01 điện thoại di động, hiệu Viettel, màu đen viền xanh, số imel 1: 359430068331400, số imel 2: 659430068331418 (là điện thoại S dùng để liên lạc với H để xin biển số xe);

- 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh có in chữ “Công ty TNHH xây dựng Châu Bảo Ngọc” và 01 quần jeans dài, màu xanh đen (là đồ S mặc khi đi trộm cắp);

- 01 cái xẻng dài 90cm, cán bằng gỗ dài 60cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm (là công cụ S dùng để đánh anh Th);

- 01 áo sơ mi dài tay, kẻ sọc tối màu và 01 quần jeans dài màu xanh (là đồ Th mặc khi đi trộm cắp).

- 01 điện thoại di động hiệu Nokia A, màu trắng đen, số imel 1: 35731908 4137432, số imel 2: 357319084137431 (Th khai dùng sử dụng cá nhân).

Đối với Nguyễn Hoài Th khi mời lên làm việc không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng với S. Quá trình điều tra, Th đã trốn khỏi địa phương. Chưa làm việc được với Th, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra củng cố chứng cứ sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng tên Huấn chưa rõ lai lịch là người mua xe của S, nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng Đào Văn H hiện đã bỏ địa phương đi, Cơ quan điều tra chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra sẽ xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 121/CT-VKSQ.TP ngày 23 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng.

- Bị cáo Nguyễn Xuân S đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm

sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của những người bị hại và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên đã có đủ cơ sở để xác định: do cần tiền tiêu xài, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, nên vào ngày 09/6/2019 bị cáo Nguyễn Xuân S đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của các anh Võ Th, Đinh Viết Th để chiếm đoạt 02 xe mô tô, tổng trị giá: 8.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân S về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo là người có nhân thân xấu. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án nghiêm khắc, mới có tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, cũng xem xét bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra xác định 01 xe mô tô Yamaha Sirius mà S trộm cắp của anh Võ Th. Xe này anh Th mượn của anh Phan Tấn Đ, nên Cơ quan điều tra lập biên bản giao trả chiếc xe trên cho anh Đ. Anh Th và anh không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên HĐXX không xem xét. Đối với 01 xe mô tô Honda Wave S, sau khi bị cáo cùng đồng bọn trộm được của anh Đinh Viết Th đã đem bán cho một người tên Huấn (chưa rõ lai lịch) đến nay chưa thu hồi được. Anh Th yêu cầu bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường 8.000.000 đồng; Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh Th. Xét đây là sự thỏa Th tự nguyện và phù hợp pháp luật, nên HĐXX ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe mô tô Yamaha Sirius, số máy: 3S31-032030, số khung: RLC3S3106Y032030. Kết quả xác minh xe do anh Phan Tấn Đ đứng tên chủ sở hữu và anh Đạt cho anh Võ Th mượn sử dụng. Cơ quan điều tra đã lập biên bản giao trả cho anh Đ là phù hợp.

- Đối với: 01 chìa khóa số 10 dùng sửa xe bằng kim loại và 01 thanh kinh loại hình trụ tròn, có một đầu dẹp dài 20cm, đường kính 0,7cm (là công cụ S dùng bẻ khóa xe); 01 chìa khóa xe Yamaha mã Y80 (S đặt anh Ngọc là thợ sửa chìa khóa làm để sử dụng); 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh có in chữ “Công ty TNHH xây dựng Châu Bảo Ngọc” và 01 quần jeans dài, màu xanh đen (là đồ S mặc khi đi trộm cắp); 01 cái xẻng dài 90cm, cán bằng gỗ dài 60cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm (là công cụ S dùng để đánh anh Th); Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động, hiệu Viettel, màu đen viền xanh, số imel 1: 359430068331400, số imel 2: 659430068331418 (là điện thoại S dùng để liên lạc với H để xin biển số xe); cần tiếp tục tạm giữ của bị cáo để đảm bảo cho việc bồi thường cho người bị hại anh Đinh Viết Th.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia A, màu trắng đen, số imel 1: 35731908 4137432, số imel 2: 357319084137431 (Th khai dùng sử dụng cá nhân) và 01 áo sơ mi dài tay, kẻ sọc tối màu và 01 quần jeans dài màu xanh (là đồ Thạnh mặc khi đi trộm cắp) giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 202/PNK ngày 29/7/2019 của Công an quận Tân Phú).

Đối với Nguyễn Hoài Th khi mời lên làm việc không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng với S. Quá trình điều tra, Th đã trốn khỏi địa phương. Chưa làm việc được với Th; Đối với đối tượng tên Huấn chưa rõ lai lịch là người mua xe của S, nên Cơ quan điều tra chưa tiến hành làm việc được; Đối với đối tượng Đào Văn H hiện đã bỏ địa phương đi, Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra củng cố chứng cứ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng đồng án phí DSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

[1] Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[2] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội "Trộm cắp tài sản".

[3] Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 11 tháng 6 năm 2019.

[4] Về trách nhiệm dân sự: áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015.

- Buộc bị cáo Nguyễn Xuân S phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Đinh Viết Th tiền trị giá 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave S là: 8.000.000 (Tám triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 chìa khóa số 10 dùng sửa xe bằng kim loại và 01 thanh kinh loại hình trụ tròn, có một đầu dep dài 20cm, đường kính 0,7cm (là công cụ S dùng bẻ khóa xe); 01 chìa khóa xe Yamaha mã Y80 (S đặt anh Ngọc là thợ sửa chìa khóa làm để sử dụng); 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh có in chữ “Công ty TNHH xây dựng Châu Bảo Ngọc” và 01 quần jeans dài, màu xanh đen (là đồ S mặc khi đi trộm cắp); 01 cái xẻng dài 90cm, cán bằng gỗ dài 60cm, lưỡi bằng kim loại dài 30cm (là công cụ S dùng để đánh anh Th).

- Tiếp tục tạm giữ 01 điện thoại di động, hiệu Viettel, màu đen viền xanh, số imel 1: 359430068331400, số imel 2: 659430068331418 của bị cáo để đảm bảo cho việc bồi thường cho người bị hại anh Đinh Viết Th.

- Giao cho Cơ quan điều tra công an quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh tiếp tục điều tra xử lý theo quy định của pháp luật: 01 điện thoại di động hiệu Nokia A, màu trắng đen, số imel 1: 35731908 4137432, số imel 2: 357319084137431 (Thạnh khai dùng sử dụng cá nhân) và 01 áo sơ mi dài tay, kẻ sọc tối màu và 01 quần jeans dài màu xanh (là đồ Thạnh mặc khi đi trộm cắp).

(Vật chứng hiện đang nhập kho theo Phiếu nhập kho vật chứng số 202/PNK ngày 29/7/2019 của Công an quận Tân Phú).

[6] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Nguyễn Xuân S nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 400.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo Nguyễn Xuân S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Những người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Th thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ