- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 125/ 2019/HS-ST Ngày: 29 - 11 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Thông
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Tiễn
Ông Nguyễn Văn Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Ngô Mạnh Lân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2019/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn M (Tên gọi khác: Nguyễn Văn C) , sinh ngày 16.9.1978 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: Xã Phong Bình, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Con ông Nguyễn Văn Tạ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Yến (đã chết); Gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo đã ly hôn, có 01 con sinh năm 1998.
Tiền án:
- Ngày 28.11.2011, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20.10.2012.
- Ngày 29.5.2014, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01.01.2016.
- Ngày 16.5.2017, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06.01.2018.
Tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 05.10.1998, bị TAND thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân theo Khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07.12.1998.
- Ngày 14.9.2000, bị TAND quận Hải Châu xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân theo Khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 21.12.2000.
Bị cáo hiện đang bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18.9.2019 tại Trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng.
* Người bị hại: Chị Trần Thị Kim Tuyến, sinh năm: 1987. Trú tại: tổ 28, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Thành Đại. Sinh năm: 1992. Trú tại: Tổ 145, phường Thanh Khê Tây, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
- Bà Lê Thị Kim Phượng, sinh năm: 1979. Trú tịa: Số 17 Nguyễn Văn Tố, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt tại phiên tòa)
* Người làm chứng:
- Ông Phạm Hồng Thắm, sinh năm 1962; Trú tại: K171/38 Trần Thái Tông, phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 18.9.2019, Nguyễn Văn M điều khiển xe môtô 43C1-791.13 đến Bệnh viện Đà Nẵng, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. M gửi xe tại nhà giữ xe của Bệnh viện, đi bộ vào Bệnh viện tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày, M lên tầng 4 Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình, phát hiện tại phòng điều dưỡng Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình có chị Trần Thị Kim Tuyến (sinh năm: 1987. Trú tại: tổ 28, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng) đang ngủ, trên giường để 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus đang sạc pin, M lén lút lấy điện thoại trên. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, M đi đến gần cổng Bệnh viện thì bị bảo vệ nghi ngờ, kiểm tra, phát hiện trong người của M có 01 điện thoại đi động Iphone 7 Plus màu đen, 01 điện thoại đi động Iphone 6S màu xám, 01 ví da bên trong 01 giấy đăng ký xe 43C1-791.13 và giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn M. Đội bảo vệ bệnh viện đã mời Công an phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đến làm việc.
Vật chứng thu giữ của M:
+ 01 điện thoại đi động Iphone 7 Plus màu đen; 01 điện thoại di đông nhãn hiệu Nokia màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu hồng (M khai: do trộm cắp mà có – đều khóa mật khẩu, không kiểm tra được số Imei).
+ 01 điện thoại đi động Iphone 6S màu xám, số Imei: 353309077086062; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo màu đen Imei1: 861570044182814, số Imei2: 861570048182806.
+ 01 ví da; 01 Giấy đăng ký xe 43C1-791.13; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn M.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade 43C1-791.13, số khung 6326Hz137017, số máy JF63E2164675.
Theo Kết luận định giá tài sản số 123/KL-HĐĐG ngày 25/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hải Châu xác định: 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 7 Plus nêu trên có trị giá 3.500.000 đồng
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Ngoài ra, Nguyễn Văn M còn khai nhận vào giữa tháng 8 năm 2019 tại 01 phòng bệnh nhân tại tầng 3, khoa Răng hàm mặt Bệnh viện Đà Nẵng, M còn trộm cắp 04 điện thoại gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen, 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu hồng, 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng của 03 người bệnh đang nằm ngủ trong phòng. Sau khi trộm cắp được tài sản, M cất giấu 04 điện thoại trên trong cốp xe môtô 43C1-791.13 và bị Công an phát hiện, thu giữ như đã nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu đã thông báo truy tìm chủ sở hữu của 04 điện thoại trên nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
Về dân sự: Tài sản đã trả lại cho người bị hại Trần Thị Kim Tuyến, chị Tuyến không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 127/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Văn M về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 03 (Ba) năm tù đến 04 (bốn) năm tù.
- Về dân sự: Đối với chiếc điện thoại di động động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen của chị Trần Thị Kim Tuyến, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Tuyến theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 23.9.2019. Chị Tuyến không yêu cầu gì thêm nên không đề cập xử lý.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
+ Đối với 04 điện thoại gồm: 02 điện thoại Oppo (01 cái màu đen, 01 cái màu hồng), 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng: Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, điều tra làm rõ, xử lý sau.
+ Trả lại cho Nguyễn Văn M tài sản gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade 43C1-79.113, số khung 6326HZ137017, số máy JF63E2164675 của Nguyễn Văn M; 01 điện thoại đi động Iphone 6S màu xám, số Imei: 353309077086062; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo màu đen Imei1: 861570044182814, số Imei2: 861570048182806; 01 ví da; 01 Giấy đăng ký xe 43C1-791.13; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn M.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bị hại – chị Trần Thị Kim Tuyến đã nhận lại tài sản, vắng mặt tại phiên tòa và không yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là Bà Lê Thị Kim Phượng và anh Phan Thành Đại vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì thêm.
Người làm chứng: Ông Phạm Hồng Thắm xác nhận diễn biến sự việc ông được chứng kiến đúng như lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn M, không có ý kiến gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị hại – chị Trần Thị Kim Tuyến và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Bà Lê Thị Kim Phượng và anh Phan Thành Đại vắng mặt tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát không ý kiến về việc vắng mặt của bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Xét thấy, Tòa án đã triệu tập bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham dự phiên tòa hợp lệ, quá trình điều tra, Cơ quan công an đã tiến hành lấy lời khai của những người trên, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm về dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không có ý kiến gì nên việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Do đó, căn cứ Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về trách nhiệm hình sự:
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở khẳng định: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 18.9.2019, tại phòng điều dưỡng Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình Bệnh viện Đà Nẵng, phường Thạch Thang, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo Nguyễn Văn M đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen trị giá 3.500.000 đồng của chị Trần Thị Kim Tuyến.
Trước đó, bị cáo đã có 03 tiền án: Ngày 28.7.2011, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 tại Bản án 86/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20.10.2012; Ngày 29.5.2014, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 tại Bản án số 45/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01.01.2016 (Tại Bản án này bị cáo đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm g Điều 48 BLHS năm 1999); Ngày 16.5.2017, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 tại Bản án số 34/2017/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06.01.2018, chưa được xóa án tích, mà bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Đối chiếu pháp luật theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng ngừa tội phạm, trong đó có tội xâm phạm sở hữu, góp phần bảo vệ tài sản của nhân dân, cần thiết xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự một cách nghiêm khắc.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Văn M là người có nhân thân rất xấu, từ năm 1998 đến nay đã nhiều lần bị kết án tù giam, nhưng bị cáo không biết ăn năn, hối cải, lo làm ăn lương thiện để trở thành người có tích cho xã hội mà ngược lại bị cáo bất chấp hậu quả, coi thường pháp luật, lấy việc trộm cắp tài sản của người khác để kiếm tiền nhanh chóng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, đề nghị của Đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, nên chấp nhận.
Về dân sự: Người bị hại – chị Trần Thị Kim Tuyến đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
+ Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tạm giữ, điều tra làm rõ, xử lý sau đối với 04 điện thoại gồm: 02 điện thoại Oppo (01 cái màu đen, 01 cái màu hồng), 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng.
+ Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade 43C1-79.113, số khung 6326HZ137017, số máy JF63E2164675; 01 điện thoại đi động Iphone 6S màu xám, số Imei: 353309077086062; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo màu đen Imei1: 861570044182814, số Imei2: 861570048182806; 01 ví da; 01 Giấy đăng ký xe 43C1-791.13; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn M. Đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, những vật chứng này là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội. Do đó, đề nghị của đại diện viện kiểm sát là có căn cứ, nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào: điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn M 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18.9.2019.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên:
+ Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tiếp tục tạm giữ, điều tra làm rõ, xử lý sau đối với 04 điện thoại gồm: 02 điện thoại Oppo (01 cái màu đen, 01 cái màu hồng), 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Iphone 6S màu hồng.
+ Trả lại cho bị cáo: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade 43C1-79.113, số khung 6326HZ137017, số máy JF63E2164675; 01 điện thoại đi động Iphone 6S màu xám, số Imei: 353309077086062; 01 điện thoại đi động nhãn hiệu Oppo màu đen Imei1: 861570044182814, số Imei2: 861570048182806; 01 ví da; 01 Giấy đăng ký xe 43C1-791.13; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn M (Các vật chứng này hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14.11.2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an quận Hải Châu và Chi cục THADS quận Hải Châu).
3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.
Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được cấp, tống đạt bản án.
| Nơi nhận: - VKSND quận Hải Châu; - VKSND TP Đà Nẵng; - TAND TP Đà Nẵng; - CQCSĐT CA quận Hải Châu; - THA dân sự quận Hải Châu; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Phạm Minh Thông |