vanban.org

Bản án 125/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 125/2019/HS-ST
Ngày: 19-9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Châm Thị Vân Khánh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Minh

2. Ông Đào Văn Trung

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên toà: Bà

Bùi Thị Bích Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện

Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:119/2019/TLST-HS ngày 16/8/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 132/2019/QĐXXST-HS ngày 06/9/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B; giới tính: Nam; sinh năm 1976; nơi ĐKHKTT

và chỗ ở: xóm T, xã X, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 3/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn Th (đã chết) và bà Dương Thị V; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân:Ngày 27/9/2012 bị Chủ tịch UBND huyện Phú Bình ra quyết định về việc áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy vào Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội của tỉnh Thái Nguyên;bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/6/2019 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Bình; có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người chứng kiến: Anh Dương Minh T, sinh năm 1976(Vắng mặt )

Địa chỉ: xóm T, xã Đ, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 13/6/2019, tổ công tác của Công an huyện Phú

Bình kết hợp cùng Công an xã Đ làm nhiệm vụ tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện Phú Bình thì phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 trú tại: xóm T, xã X, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Qua kiểm tra đối tượng đã tự giác giao nộp 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (B khai là ma túy loại Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 930/KL-KTHS ngày 21/6/2019 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn B là chất ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 0,253gam.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn B khai: B là đối tượng nghiện ma túy,

nên khoảng 18 giờ 30 phút ngày 13/6/2019, B một mình đi lên khu vực cầu vượt khu công nghiệp Đ, huyện Phú Bình với mục đích để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, B gặp một người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và mua 01 gói ma túy của người đàn ông này với giá 100.000đ. Bị cáo cho vào túi quần bên trái phía sau đang mặc và đi về đến khu vực đảo tròn Đ, thuộc xóm T, xã Điềm Thụy, huyện Phú Bình thì bị tổ công tác của Công an huyện Phú Bình kiểm tra bắt giữ, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận rõ hành vi phạm tội như lời

khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả. Bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, không oan.

Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKSPB ngày 16/8/2019, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Phú Bình truy tố Nguyễn Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện

Phú Bình giữ nguyên bản Cáo trạng số 129/CT-VKSPB ngày 16/8/2019, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều

38 Bộ luật hình sự: xử phạt Nguyễn Văn B từ 30 đến 36 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bi cáo; Về vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng là ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện

kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý

kiến, đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, Quyết

định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên

tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20h50 phút ngày 13/6/2019, tại khu vực xóm T, xã Đ, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo B đã có hành vi tàng trữ 0,253gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 129/CT-VKSPB ngày 16/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố Nguyễn Văn B theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, về nhân thân, các tình tiết

tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, không những ảnh hưởng đến chính sức khỏe của bị cáo mà còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị

xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện theo quyết định của Chủ tịch UBND huyện Phú Bình, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, cải tạo trở thành một công dân tốt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, sau khi

xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Mức án mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp

cần chấp nhận.

- Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, nhiễm HIV, qua xác

minh lời khai tại phiên tòa không có tài sản, không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về biện pháp ngăn chặn: Cần áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn B 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Về vật chứng: cần tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại

sau giám định.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp

luật.

Các vấn đề khác: Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy

cho bị cáo tại khu vực cầu vượt khu công nghiệp Đ, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên. Do bị cáo B không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38

Bộ luật hình sự

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 02(Hai) năm 06(Sáu) tháng tù. Thời hạn tù

tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo 13/6/2019.

2.Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo

Nguyễn Văn B 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố

tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có chứa

0,230gam Heroine được hoàn lại sau giám định.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2019

giữa Công an huyện Phú Bình và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình)

4.Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí; buộc bi ̣ cáo Nguyễn Văn B phải nô ̣p 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ

ngày tuyên án.

Cỡ chữ