- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG, HUYỆN CÁI BÈ Bản án số:125/2017/HNGĐ-ST Ngày: 03/8/2017 V/v tranh chấp ‘‘Xin ly hôn’’ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mã Thanh Trung.
2. Ông Nguyễn Văn Tám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hiển – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên tòa: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số 452/2017/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2017 về việc "Xin ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Hồ Thị N (T1), sinh năm 1981 (có mặt).
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã M, huyện N, tỉnh Tiền Giang.
* Bị đơn: Nguyễn Thành P (T2), sinh năm 1978 (có mặt).
Địa chỉ: tổ A, ấp B, xã M, huyện N, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 26/6/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hồ Thị N trình bày:
- Chị và anh Nguyễn Thành P xác lập quan hệ vợ chồng năm 1999 có đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh P thường xuyên ngược đãi đánh đập chị rồi đuổi chị ra khỏi nhà. Anh chị cắt đứt quan hệ vợ chồng từ đầu tháng 6/2017 đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành P.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 10/7/2000, hiện sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Theo bản tự khai ngày 10/7/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Thành P trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn và chung sống như lời chị N khai là đúng. Quá trình sống chung có mâu thuẫn do chị N đi khám bệnh nhiều lần nhiều ngày nhưng về không có thuốc gì uống nên anh ghen anh có đánh bạt tay, trước đây 2-3 năm thì anh có đánh vợ nhưng hiện nay thì không, anh thừa nhận anh có chửi vợ và anh có nói đuổi đi nên hiện vợ bỏ nhà đi về nhà mẹ vợ sống. Anh không đồng ý ly hôn với chị N.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung như lời chị N khai là đúng. Anh không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa chị N vẫn giữ ý kiến và yêu cầu như trên. Anh P có yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự: Chị Hồ Thị N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc hôn nhân và nuôi con của chị và anh Nguyễn Thành P. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Về yêu cầu của anh P tại phiên tòa về chia tài sản và nợ chung của anh chị. Xét thấy trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, anh P chị N đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng đồng thời anh P không có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết và Tòa án chưa thụ lý yêu cầu này của anh, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu giải quyết về tài sản và nợ chung của anh chị. Nếu anh chị có yêu cầu thì làm đơn Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị N và anh Nguyễn Thành P chung sống với nhau vào năm 1999, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa Khánh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 113, quyển số 01, ngày 31/7/2006. Trong thời gian chung sống phát sinh mâu thuẫn, đến đầu tháng 6/2017 thì tự cắt đứt quan hệ vợ chồng, nguyên nhân là do anh P thường xuyên đánh đập và đuổi chị ra khỏi nhà, còn anh P là do ghen tuông, anh có đánh vợ nhưng 2-3 năm trước nay thì không có, anh có chửi và đuổi vợ đi nên chị N về nhà cha mẹ ruột từ đầu tháng 6/2017 và anh P nhiều lần đến để xin lỗi chị để chị về sống chung.
Xét thấy anh P chị N chung sống với nhau vào năm 1999, quá trình sống chung thì xảy ra mâu thuẫn, do anh P thường xuyên đánh đập chị N, gia đình hai bên đều biết nhưng không giải quyết, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng dẫn đến chị N bỏ nhà ra đi và cắt đứt quan hệ vợ chồng. Mặc dù anh P không đồng ý ly hôn nhưng anh cũng xác định chị N không còn tình cảm với anh. Như vậy chứng tỏ tình cảm của chị N đối với anh P không còn, do đó tình cảm vợ chồng đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 10/7/2000, hiện do chị N nuôi dưỡng từ khi cắt đứt quan hệ vợ chồng đến nay đã ổn định, hơn nữa qua tham khảo ý kiến lời khai của con chung anh chị, có yêu cầu sống với chị N, nên không cần xáo trộn tình cảm con chung mà tiếp tục giao con chung cho chị N nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị N là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị N, anh P được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 51, 56, 57, 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hồ Thị N.
Cho chị Hồ Thị N được ly hôn anh Nguyễn Thành P.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trung H, sinh ngày 10/7/2000 cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Anh P được quyền đến thăm con chung theo quy định pháp luật.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
5. Về án phí: Chị Hồ Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 07083 ngày 26 tháng 6 năm 2017 của Cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Xem như chị N đã nộp xong tiền án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Chị Hồ Thị N, anh Nguyễn Thành P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - CCTHADS huyện Cái Bè; - UBND xã M, huyện N; - Đương sự (để thi hành); - Lưu: TDS, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA PHẠM VĂN NHỊN |