vanban.org

Bản án 124/2026/HC-PT — Hành chính

Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/03/2026 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/03/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai"
  • Căn cứ chính? Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số nghị định…; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 157 Luật Tố tụng hành chính
TÒA PHÚC THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2026/HC-PT
Ngày: 27/3/2026
V/v:“Kiện quyết định hành chính trong
lĩnh vực quản lý đất đai ”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đinh Phước Hoà

Các Thẩm phán:

ông Nguyễn Tấn Long

ông Trần Quốc Cường

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành An, Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 261/2025/TLPT-HC ngày 20 tháng 11 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 156/2025/HC-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk bị người khởi kiện kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 646/2026/QĐ-PT ngày 11 tháng 03 năm 2026, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Vũ Biên T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Hữu H; Địa chỉ: 5 Q, phường T, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Duy H1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Lý Thị B, sinh năm 1995 (vắng mặt)..

3.2. Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1963 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk).

3.3 Ủy ban nhân dân xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng: Chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Bùi Duy H1; C/v: Phó Chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk (vắng mặt).

3.4 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên L: Địa chỉ: B N, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. (Nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk) (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tham gia tố tụng, người đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện, ông Phạm Hữu H trình bày:

Vào tháng 5/2024, ông Vũ Biên T nhận được Quyết định cưỡng chế thu hồi đất đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Ngày 14/6/2024, ông Vũ Biên T đến Trung tâm phát triển quỹ đất để đối thoại các nội dung liên quan đến việc thu hồi đất để thi công công trình nêu trên, cụ thể là việc kiểm đếm đất và tài sản gắn liền với đất không có sự tham gia của ông Vũ Biên T nhưng UBND huyện E không ban hành quyết định kiểm đếm bắt buộc mà tự kiểm đếm và nhận hồ sơ (Phương án, Quyết định thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất). Từ ngày 19/6/2024 đến ngày 3/7/2024, Ủy ban nhân dân Huyện E tiến hành kiểm đếm theo quy định pháp luật. Ngày 22/8/2024 UBND Xã C ban hành quyết định xác nhận nguồn gốc đất cho ông Vũ Biên T.

Ông Vũ Biên T (có vợ là Lý Thị B) bị thu hồi các thửa đất số 18, 19, 22,35, 44, 45 tờ bản đồ số 7 và thửa đất số 03 tờ bản đồ số 8 thuộc thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk để thi công công trình tái định canh số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án K tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Từ những nội dung trên, ông Vũ Biên T yêu cầu:

Thứ nhất, ông Vũ Biên T đề nghị cơ quan chức năng xem xét hủy bỏ dự án thu hồi đất để thi công công trình tái định canh số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án K tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với các thửa đất của ông Vũ Biên T. Vì diện tích đất trên được ông T khai phá, canh tác ổn định và là nguồn thu thập chính của gia đình, nên việc thu hồi đất để giao cho người nơi khác đến canh tác là không hợp lý. Việc thu hồi này khiến gia đình ông Vũ Biên T lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn trong việc ổn định cuộc sống và canh tác.

Thứ hai, nếu thu hồi đất đối với các thửa đất thửa đất số 18,19,22,35,44,45 tờ bản đồ số 7 và thửa đất số 03 tờ bản đồ số 8 thì phải bồi thường cho gia đình ông Vũ Biên T theo quy định pháp luật, vì những căn cứ sau:

Ông Vũ Biên T theo mẹ là bà Vũ Thị T1 từ K, Ninh Bình chuyển vào địa phương xã C vào năm 1997 (việc này đã được cơ quan Công an xác nhận) để khai phá các thửa đất trên và canh tác vào mục đích sản xuất nông nghiệp từ đó đến nay. Đến năm 2012 thì bà T1 cho ông T canh tác, ông T là hộ dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và dựa vào sản xuất nông nghiệp để sống, không có ngành nghề gì khác. Các thửa đất nêu trên được gia đình ông Vũ Biên T khai phá vào năm 1997 và canh tác ổn định đến năm 2012 thì cho ông Vũ Biên T để tiếp tục canh tác đến nay, việc khai phá và sử dụng ổn định có các minh chứng sau: 03 cây điều thường trồng năm 2000, 05 cây gạo làm trụ tiêu năm 2000, 02 cây xoài thường trồng năm 2000 và trồng nhiều cây khác. Việc thời điểm tạo lập cây trồng và canh tác ổn định đã được cơ quan chức năng và cơ quan chuyên môn là Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện E xác định như sau: Có những cây trồng gia đình ông T canh tác rất tốt nên được cơ quan chuyên môn xác định chất lượng là loại A, cụ thể là 2 cây xoài trồng năm 2000 loại A, 3 cây điều thường trồng 2000 loại B, nhà của được tạo lập năm 1997, giếng đào năm 1997, 1 cây sung trồng năm 2000 và trồng nhiều cây khác…(theo biên bản kiểm đếm đối với hộ ông Vũ Biên T, do ông Vũ Biên T đi vắng nên có mẹ là Vũ Thị T1 đại diện kiểm đếm thay).

Việc khai phá đất và sử dụng ổn định lâu dài của gia đình ông Vũ Biên T còn được trưởng thôn, phó thôn, bí thư chi bộ các thời kì làm chứng. Ông Vũ Biên T sử dụng ổn định, không tranh chấp với ai, không bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính liên quan đến việc sử dụng đất đai.

Vì vậy, có đủ cơ sở để xác định các thửa đất nêu trên của gia đình ông Vũ Biên T là khai hoang vào năm 1995 và sử dụng ổn định đến nay. Nên khi nhà nước thu hồi đất thì phải bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định cuộc sống, chuyển đồi nghề cho hộ gia đình ông Vũ Biên T theo đúng quy định pháp luật.

Ngoài ra, kể cả có việc lấn chiếm đất thì: Căn cứ vào khoản 2 Điều 77 Luật đất đai đối với trường hợp sử dụng đất trước ngày 01/7/2004 mà người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhận trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường đối với diện tích đất thực tế đang được sử dụng. Tại khoản 1 Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 đã quy định một trong những điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là: Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hàng năm, có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận theo quy định của Luật này mà chưa được cấp. Tại điểm c khoản 2 và khoản 5 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai đã quy định: Trường hợp sử dụng đất lấn, chiếm đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh, Ban quản lý rừng, trung tâm, trạm, trại, công ty N1, lâm nghiệp và nay đang sử dụng đất ổn định vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở; không có tranh chấp và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận. Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP; phần diện tích đất đang sử dụng được xác định là đất nông nghiệp thì được công nhận quyền sử dụng đất theo chế độ như quy định đối với trường hợp tại Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP.

Do vậy, đối với trường hợp các hộ dân lấn, chiếm sử dụng đất trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở mà đất này đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các nông trường, lâm trường quốc doanh trước đây, nay Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 61, Điều 62 của Luật đất đai thì người sử dụng đất được bồi thường về đất.

Đối với một số tài sản trên đất được gia đình ông T tạo lập sau năm 2013. Đề nghị cơ quan chức năng bồi thường các tài sản này cho hộ gia đình ông T. Vì gia đình ông T không nhận được thông báo thu hồi đất số 140/TB-UBND ngày 28/10/2013 của UBND Huyện E nên không biết diện tích đất bị thu hồi. Ngoài ra, căn cứ vào khoản 3 Điều 49 Luật đất đai thì sau 3 năm kể từ khi có kế hoạch sử dụng đất hằng năm của cấp huyện đã được công bố mà chưa có quyết định thu hồi đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố kế việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạc sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chính, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người dân không bị hạn chế quyền tạo lập tài sản. Nên các tài sản được tạo lập sau năm 2013 của hộ gia đình ông T cũng phải được bồi thường.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, ông Vũ Biên T nhận được Quyết định số 281/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 08 tháng 3 năm 2023, Quyết định số 25/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc thu hồi đất; Quyết định số 280/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 23 tháng 12 năm 2022; Quyết định số 24/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 8 tháng 3 năm 2023 và Quyết định số 461/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 4 tháng 12 năm 2023 về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, hộ gia đình ông T không được bồi thường về đất, không bồi thường về tài sản gắn liền với đất, không hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm mà cho rằng hộ ông Vũ Biên T lấn chiếm đất vào năm 2009 nên chỉ được hỗ trợ 50% về đất, hỗ trợ về tài sản gắn liền với đất với tổng giá trị là 511.426.074 đồng.

Việc không bồi thường về đất, không bồi thường về tài sản gắn liền với đất, không hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình ông Vũ Biên T. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích của mình, ông Vũ Biên T khởi kiện yêu cầu cụ thể như sau:

- Hủy bỏ một phần Quyết định số 281/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 08 tháng 3 năm 2023 và hủy bỏ một phần Quyết định số 25/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 23 tháng 12 năm 2022 về việc thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, Huyện E, Tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Vũ Biên T.

- Hủy bỏ một phần Quyết định số 280/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 23 tháng 12 năm 2022, hủy bỏ một phần Quyết định số 24/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 8 tháng 3 năm 2023 và hủy bỏ một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND do UBND Huyện E ban hành ngày 4 tháng 12 năm 2023 về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, Huyện E, Tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Vũ Biên T.

- Buộc UBND Huyện E phải ban hành quyết định bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đúng theo quy định pháp luật đối với hộ ông Vũ Biên T.

* Tại bản tự khai, người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện, ông Lê Đình C – Phó chủ tịch UBND huyện E trình bày:

Về Trình tự, thủ tục thực hiện thu hồi đất: UBND huyện thực hiện đúng, đủ quy trình về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định pháp luật.

Về việc bồi thường về đất, tài sản gắn liền với đất và hỗ trợ các chế độ ổn định đời sống và chuyển đổi nghề nghiệp đối với hộ ông Vũ Biên T:

Xác định nguồn gốc đất: Căn cứ theo xác nhận số 22/GXN-UBND ngày 29/11/2022 và xác nhận số 101/GXN-UBND ngày 16/02/2023 của UBND xã C xác nhận đối với hộ ông Vũ Biên T thì toàn bộ diện tích đất thuộc phạm vi thu hồi của tất cả các hộ gia đình có nguồn gốc lấn, chiếm đất do UBND tỉnh Đ giao cho Công ty TNHH MTV L quản lý theo Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của UBND tỉnh Đ về việc cho Công ty L thuê 137.935.686 m² đất và cấp GCNQSDĐ cho Công ty để sử dụng vào mục đích nông nghiệp. Theo đó, thời điểm sử dụng đất ổn định từ năm 2009.

Căn cứ bồi thường về đất: Căn cứ Điều 82 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 64 của Luật đất đai năm 2013 thì đất của hộ ông Vũ Biên T đang sử dụng thuộc khoản d, Điều 64 của luật đất đai năm 2013 nên không được bồi thường về đất.

Căn cứ về bồi thường tài sản gắn liền với đất: Căn cứ Điều 92 của Luật đất đai năm 2013 quy định:

“Điều 92. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất

1. Tài sản gắn liền với đất thuộc một trong các trường hợp thu hồi đất quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, i khoản 1 Điều 64 và điểm bị thu hồi đất quy Luật này.

2. Tài sản gắn liền với đất được tạo lập trái quy định của pháp luật hoặc tạo lập từ sau khi có thông báo thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

3. Công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và công trình xây dựng khác không còn sử dụng”.

Do đó, tài sản gắn liền với đất của hộ ông Vũ Biên T thuộc khoản 1, Điều 92 của Luật đất đai năm 2013 nên không được bồi thường.

Căn cứ về hỗ trợ ổn định đời sống: Căn cứ khoản 2, Điều 19, Nghị định 47/2014/ND-CP quy định:

“2. Điều kiện để được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất thực hiện theo quy định sau đây:

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang sử dụng đất thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại các Điều 100, 101 và 102 của Luật Đất đai, trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản này;

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông trường, lâm trường quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều này thì phải có hợp đồng giao khoán sử dụng đất”

Diện tích đất thu hồi của hộ ông Vũ Biên T có nguồn gốc lấn chiếm đất của công ty TNHH MTV L, không thuộc trường hợp được hỗ trợ chế độ này.

Căn cứ về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm: Căn cứ khoản 1, Điều 20, Nghị định 47/2014/NĐ-CP quy định:

“ Điều 20. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nông nghiệp thu hồi còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định sau đây:

a) Hỗ trợ bằng tiền không quá 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương;

b) Mức hỗ trợ cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định căn cứ điều kiện thực tế của địa phương.”

Diện tích đất thu hồi của hộ ông Vũ Biên T không đủ điều kiện được bồi thường về đất nên không thuộc trường hợp được hỗ trợ chế độ này.

Từ các nhận định và căn cứ nêu trên việc ông Vũ Biên T buộc UBND huyện E ban hành Quyết định bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật

* Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người bị kiện là UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk trình bày: Nguồn gốc sử dụng đất của khu vực Khu cánh đồng màu thuộc dự án Hồ C thượng thuộc thôn D, thôn F, xã C: Khu đất dự kiến thu hồi đã được UBND huyện E ban hành Thông báo chủ trương thu hồi đất số 140/TB-UBND, ngày 28/10/2013 về việc thu hồi đất của Công ty TNHH L hạng mục điểm tái định cư số 1 - Khu trồng màu tại thôn D, thôn F xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk với tổng diện tích thu hồi để thực hiện dự án tại xã C là 2.741.492 m².

Nguồn gốc sử dụng của khu đất thực hiện công trình Khu trồng màu thuộc Công ty TNHH MTV L quản lý theo Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của UBND tỉnh Đ về việc cho Lâm trường L thuê 137.935.686 m² đất và cấp GCNQSDĐ cho Công ty để sử dụng vào mục đích đất nông nghiệp. (Tiền thân của Lâm trường Ea K là Xí nghiệp L1 được thành lập theo Quyết định số 749/QĐ-UB ngày 28/6/1986 của UBND tỉnh Đ).

Ý kiến của UBND xã E đối với việc nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm tạo lập tài sản trên đất đối với hộ Ông Vũ Biên T:

Qua kiểm tra hồ sơ địa chính lưu tại UBND xã thì các thửa đất thu hồi của hộ gia đình ông Vũ Biên T (các thửa đất số 22, 35, 44, 45, mảnh trích đo số 07-2022) thuộc thửa đất số 30, 35 tờ bản đồ số DC02 (Theo Trích lục bản đồ địa chính số 112/TLVPĐKQSDĐ Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 09/4/2008) do Công ty TNHH L quản lý theo Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008 của UBND tỉnh Đ về việc cho Lâm trường L thuê 137.935.686 m² đất và cấp GCNQSDĐ cho Công ty để sử dụng vào mục đích đất nông nghiệp (Diện tích trên địa bàn xã C nay là xã E là 37.206.758 m² và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 204409, thời hạn sử dụng đất từ 15/10/1993 đến 15/10/2043).

Khu đất dự kiến thu hồi đã được UBND huyện E ban hành Thông báo chủ trương thu hồi đất số 140/TB-UBND, ngày 28/10/2013 về việc thu hồi đất của Công ty TNHH L hạng mục điểm tái định cư số 1 - Khu trồng màu tại thôn D, thôn F xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk nay là thôn D, thôn F, xã E, tỉnh Đắk Lắk với tổng diện tích thu hồi để thực hiện dự án tại xã C (nay là xã E) là 2.741.492 m². Thông báo thu hồi đất nêu chủ sử dụng đất hợp pháp là Công ty TNHH L.

Theo quy định tại khoản 1, Điều 7, Luật đất đai năm 2013 về người chịu trách nhiệm trước Nhà nước đối với việc sử dụng đất; Quy định tại khoản 1, Điều 7 Quyết định số 41/2021/QĐ-UBND ngày 23/12/2021 và nội dung chỉ đạo của UBND tỉnh tại mục 3, Công văn số 8668/UBND-NNMT ngày 24/9/2020 của UBND tỉnh Đ để xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất, thời điểm tạo lập tài sản trên đất để xác nhận về nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất; Mục 1, Công văn số 8370/UBND-NNMT ngày 03/10/2022 của UBND tỉnh thì Công ty TNHH L đã được UBND tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để sử dụng vào mục đích đất nông nghiệp, do đó thời điểm hộ gia đình Ông Vũ Biên T lấn, chiếm đất để sử dụng phải căn cứ trên cơ sở xác nhận thời điểm lấn, chiếm của Công ty TNHH L.

Căn cứ Công văn số 10/CV-Cty ngày 10/02/2023 của Công ty TNHH L cung cấp UBND xã đã xác nhận hộ gia đình Ông Vũ Biên T lấn, chiếm đất Công ty TNHH L năm 2009. (có kèm theo các hồ sơ căn cứ để xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất thời điểm tạo lập tài sản trên đất). UBND xã E về cung cấp tài liệu và căn cứ xác nhận nguồn gốc, thời điểm sử dụng đất đối với hộ Ông Vũ Biên T đề nghị Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk thực hiện theo quy định.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lý Thị B và Vũ Thị T1 trình bày: Bà Lý Thị B là vợ ông Vũ Biên T, bà Vũ Thị T1 là mẹ đẻ ông Vũ Biên T, các bà đồng ý với ý kiến và yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Biên T và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt theo quy định.

* Người có quyền lợi, Công ty TNHH MTV L, tỉnh Đắk Lắk: không có văn bản trình bày ý kiến và không cung cấp tài liệu chứng cứ.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số Bản án hành chính sơ thẩm số 156/2025/HC-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã quyết định:

“Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; khoản 3 Điều 59; điểm a khoản 2 Điều 116; Điều 157; Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193, Điều 194; khoản 1 Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; điểm d khoản 1 Điều 5 và khoản 1 Điều 23 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ quy định về thẩm quyền của chính quyền địa phương hai cấp, phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Áp dụng Điều 66, Điều 69, Điều 74, Điều 75; Điều 77, Điều 82, Điều 90 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 19, 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và khoản 5, khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ;

Áp dụng khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện của ông Vũ Biên T, về việc:

- Huỷ một phần các Quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 và Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 08/3/2023 của UBND huyện E về việc phê duyệt phương án hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk và Hủy một phần Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 do UBND huyện E ban hành về việc phê duyệt phương án bổ sung hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ ông Vũ Biên T.

- Buộc Chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk phải ban hành quyết định phê duyệt lại phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ gia đình ông Vũ Biên T theo quy định của pháp luật, cụ thể: Hỗ trợ về đất; Hỗ trợ về tài sản trên đất khi thu hồi đối với các thửa đất số 18, 19, 22, 35, 44 (tờ bản đồ số 7) và thửa đất số 03 (tờ bản đồ số 8) cho hộ ông Vũ Biên T theo quy định của pháp luật.

- Buộc Chủ tịch UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk phải bổ sung phương án hỗ trợ đối với đất và tài sản trên đất kể cả các tài sản được tạo lập sau khi có Thông báo số 140/TB-UBND, ngày 28/10/2013 của UBND huyện E và trước ngày kiểm đếm, ngày 31/8/2022 (được kiểm tra, ròa soát thống kê kiểm đếm lại ngày 02/7/2024) đối với các thửa đất số 18, 19, 22, 35, 44 (tờ bản đồ số 7) và thửa đất số 03 (tờ bản đồ số 8) cho hộ ông Vũ Biên T theo quy định của pháp luật.

2. Bác một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Biên T, về việc:

- Hủy bỏ Quyết định số 281/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 và Quyết định số 25/QĐ-UBND ngày 08/03/2023 của UBND huyện E về việc thu hồi đất để thi công công trình tái định cư số 1 (khu trồng màu) thuộc dự án: Hồ chứa nước Krông Pách T2 tại xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk đối với hộ Vũ Biên T.

- Buộc UBND huyện E (Chủ tịch UBND xã Ê) phải ban hành quyết định bồi thường về đất, bồi thường về tài sản gắn liền với đất, hỗ trợ ổn định cuộc sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đúng theo quy định pháp luật đối với hộ ông Vũ Biên T.

3. Đình chỉ giải quyết đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Biên T về việc: Buộc UBND huyện E bồi thường về đất, tài sản trên đất, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với thửa đất số 45, tờ bản đồ số 07 do chưa đủ điều kiện khởi kiện.”

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/9/2025, ông Vũ Biên T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm: đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Phạm Hữu H có đơn xin xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án, về trình tự, thủ tục giải quyết thì Hội đồng xét xử, thư ký đã tuân thủ đúng quy định của Luật tố tụng hành chính. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Biên T là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của Ông.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên và các đương sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Thấy người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều đã có ý kiến trình bày trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những đương sự nêu trên không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những đương sự trên.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quyết định số 281/QĐ-UBND ngày 23/12/2022, Quyết định số 25/QĐ-UBND ngày 08/3/2023 về việc thu hồi đất; Quyết định số 280/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 và Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 08/3/2023 về việc phê duyệt phương án hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc khi Nhà nước thu hồi đất, Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 04/12/2023 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất và tài sản vật kiến trúc trên đất đều của UBND huyện E là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bằng vụ án hành chính theo khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý, giải quyết vụ án hành chính theo quy định tại Điều 32 Luật tố tụng Hành chính là đúng.

[3] Đối với yêu cầu được bồi thường về đất và tài sản trên đất:

Về nguồn gốc các thửa đất: Các thửa đất của hộ ông T bị thu hồi gồm: thửa số 18, 19, 22, 35, 44, 45 tờ bản đồ số 7, thửa đất số 03 tờ bản đồ số 8 tại Thôn D, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Các thửa đất nêu trên đều nằm trong tổng diện tích 137.935.686m2 đất đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cho Công ty L thuê theo Quyết định số 1773/QĐ-UBND ngày 18/7/2008. Công ty L cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/7/2008.

Quá trình giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, ông Vũ Biên T cho rằng những thửa đất này được gia đình ông khai phá từ năm 1997 và sử dụng canh tác từ đó cho đến nay.

Quá trình sử dụng đất thì hộ gia đình ông Vũ Biên T không đăng ký kê khai trong quá trình Nhà nước quản lý đất đai.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định những thửa đất của hộ gia đình ông Vũ Biên T là lấn, chiếm của Công ty L.

Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc phải được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là đúng quy định pháp luật.

[4] Đối với yêu cầu được hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất:

Theo Giấy xác nhận số 21/GXN-UBND và Giấy xác nhận số 42/GXN-UBND của Ủy ban nhân dân xã C đã xác định thời điểm sử dụng đất các thửa số 03, 18, 19, 35, 44 và 45 là từ tháng 3/2004 cho đến nay.

Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Biên T đối với thửa đất số 03, 18, 19, 35, 44 và 45 được hỗ trợ với mức 80% theo giá đất tại bảng giá đất là đúng quy định tại Quyết định số 14/2022/QĐ-UBND ngày 15/3/2022 của UBND tỉnh Đ là có căn cứ.

[5] Đối với yêu cầu được bồi thường, hỗ trợ về tài sản trên đất:

Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Biên T.

[6] Tại cấp phúc thẩm, ông Vũ Biên T không xuất trình được tài liệu chứng cứ gì mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Biên T.

[7] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Vũ Biên T phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính;

1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Vũ Biên T. Giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 156/2025/HC-ST ngày 04 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Áp dụng khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

2. Về án phí hành chính phúc thẩm: Ông Vũ Biên T phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm. Xác nhận ông T đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002237 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.

3. Những quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ