- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn Dung - Trường"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị D được ly hôn anh Nguyễn Đức T
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:124/2025/HNGĐ-ST Ngày 29 - 9 - 2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Sóng, ông Phạm Thành Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Thuỷ, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Mai Thị D, nơi cư trú: Thôn Phù Lưu, xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng, vắng măt có đơn xin xét xử vắng măt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đức T, nơi cư trú: Thôn Phù Lưu, xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng, vắng măt có đơn xin xét xử vắng măt.
NỘI D VỤ ÁN:
Nguyên đơn, bị đơn thống nhất trình bày: Chị Mai Thị D và anh Nguyễn Đức T tự nguyện kết hôn năm 2016 đã ly hôn năm 2019 sau đó lại quay về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn năm 2024 tại Uỷ ban nhân dân xã Phù Ninh. Sau khi quay lại chung sống với nhau vợ chồng vẫn phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau. Nay chị D nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn với anh T. Vợ chồng có 02 con chung Nguyễn T Giang, sinh năm 2016, Nguyễn Bảo Ngọc sinh năm 2024. Khi vợ chồng ly hôn năm 2019, đã giải quyết về con chung đối với cháu T Giang nên chị D không yêu cầu Toà án giải quyết trong vụ án này. Ly hôn chị D nhận nuôi cháu Bảo Ngọc và anh T cũng đồng ý. Chị D, anh T không yêu cầu Toà án giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và về việc giải quyết vụ án như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội D khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử cho chị Mai Thị D được ly hôn anh Nguyễn Đức T; giao con chung Nguyễn Bảo Ngọc cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Mai Thị D và anh Nguyễn Đức T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn năm 2024 tại UBND xã Phù Ninh, nay là xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng theo quy định tại của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Bị đơn hiện đang cư trú tại xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Căn cứ Điều 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa khẳng định: Trong quá trình chung sống chị D và anh T đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách và quan điểm sống không hợp nhau. Chị D và anh T đều xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Như vậy, có thể khẳng định quan hệ hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần căn cứ vào Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Mai Thị D
Về con chung: Vợ chồng 02 con chung Nguyễn T Giang, sinh năm 2016, Nguyễn Bảo Ngọc sinh năm 2024. Năm 2019 vợ chồng ly hôn đã giải quyết về con chung Nguyễn T Giang nên Toà án không xem xét giải quyết trong vụ án này. Con chung Nguyễn Bảo Ngọc chưa đủ 36 tháng tuổi, chị D có nguyện vọng được nuôi con và anh T cũng đồng ý. Vì vậy, cần giao con chung Bảo Ngọc cho chị D trực tiếp nuôi đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Các điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Tư pháp người chưa thành niên, Luật Phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị D được ly hôn anh Nguyễn Đức T
2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Bảo Ngọc, sinh năm 2024 cho chị Mai Thị D nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Mai Thị D phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0002012 ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị D đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị D và anh Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
T hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hànhán hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND cùng cấp; - THADS TP. Hải Phòng; - UBND xã Việt Khê (Giấy CNKH số 06/2024); - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai |