vanban.org

Bản án 124/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu bà K và ông R trả số tiền hụi còn nợ là 70.

Buộc bà K và ông R phải cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H đối với số tiền phải trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bà K và ông R còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi (H - K,R)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu bà K và ông R trả số tiền hụi còn nợ là 70.
  • Căn cứ chính? Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2025/DS-ST
Ngày: 09 - 12 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Trần Hoàng Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 284/2025/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa dân sự sơ thẩm số: 232/2025/QĐST-DS ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông H. Địa chỉ: Ấp A, xã B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt, có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt)

2. Bị đơn:

2.1. Bà K. Địa chỉ: Ấp A1, xã B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

2.2. Ông R. Địa chỉ: Ấp A1, xã B, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 04/8/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông H trình bày: Ông H có tham gia chơi hụi do bà K và ông R làm chủ hụi, sau khi ông H đóng hụi thì bà K và ông R không giao tiền hụi cho ông H, cụ thể như sau:

Dây hụi mùa 5.000.000 đồng, mở ngày 30/01/2021 âm lịch, có 21 phần, ông H tham gia 01 phần, tên trong danh sách hụi là “H ấp 2”, ông H đóng hụi sống được 14 lần với số tiền hụi có lãi mà ông H đã đóng là 14 lần x 01 phần x 5.000.000 đồng = 70.000.000 đồng, đến lần hụi thứ 15 thì bà K và ông R tuyên bố bể hụi không khui hụi nữa nhưng bà K và ông R không giao hụi cho ông H, nên dây hụi này bà K và ông R còn nợ ông H là 70.000.000 đồng.

Nay ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà K và ông R cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng (không yêu cầu tính lãi).

Về việc bà K và ông R xin trả dần số tiền hụi là 70.000.000 đồng cho ông H với mức 3.500.000 đồng/tháng thì ông H không đồng ý, ông H chỉ đồng ý cho bà K và ông R trả dần số tiền hụi là 70.000.000 đồng cho ông H với mức 5.000.000 đồng/tháng. Nếu hai bên không thỏa thuận được về phương thức trả nợ thì ông H đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

* Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, các bị đơn bà K, ông R trình bày: Qua yêu cầu khởi kiện của ông H thì bà K và ông R cũng thừa nhận hiện nay bà K và ông R còn nợ ông H số tiền hụi là 70.000.000 đồng. Bà K và ông R cũng đồng ý trả số tiền hụi là 70.000.000 đồng cho ông H, nhưng do bà K và ông R đang gặp nhiều khó khăn về kinh tế nên xin trả dần số tiền hụi là 70.000.000 đồng cho ông H với mức 3.500.000 đồng/tháng; việc ông H yêu cầu bà K và ông R trả dần số tiền hụi là 70.000.000 đồng cho ông H với mức 5.000.000 đồng/tháng thì bà K và ông R không đồng ý do bà K và ông R không có khả năng. Nếu hai bên không thỏa thuận được về phương thức trả nợ thì bà K và ông R đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt nhưng trong quá trình giải quyết vụ án ông H vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Theo nội dung yêu cầu khởi kiện, ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà K và ông R cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng (không yêu cầu tính lãi); Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng góp hụi là đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ không có tiến hành thu thập chứng cứ và vụ án không thuộc các trường hợp khác theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ không tham gia phiên tòa sơ thẩm.

Bà K và ông R là bị đơn, có địa chỉ cư trú tại ấp ấp A1, xã B, thành phố Cần Thơ; Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông H vắng mặt, có đề nghị xét xử vắng mặt, bà K và ông R đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do và không thuộc trường hợp sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, việc vắng mặt cũng không ảnh hưởng đến việc xét xử; Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án: Quá trình giải quyết vụ án, ông H, bà K và ông R thống nhất thừa nhận ông H có tham gia dây hụi mùa 5.000.000 đồng, mở ngày 30/01/2021 âm lịch do bà K và ông R làm chủ hụi, tính đến thời điểm hiện nay bà K và ông R còn nợ ông H số tiền hụi là 70.000.000 đồng; bà K và ông R cũng đồng ý trả cho ông H toàn bộ số tiền này, hai bên chỉ không thống nhất về phương thức trả nợ. Sự thừa nhận này của ông H, bà K và ông R là tình tiết, sự kiện mà các bên không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Từ đó, Hội đồng xét xử xác định việc bà K và ông R nợ ông H số tiền hụi là 70.000.000 đồng là sự thật, cho đến nay bà K và ông R chưa trả số tiền này cho ông H là vi phạm thỏa thuận về góp hụi đã được xác lập giữa các bên, vi phạm nghĩa vụ của chủ hụi theo quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường. Do đó, việc ông H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà K và ông R cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bà K và ông R xin trả dần số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng cho ông H với mức 3.500.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ thì ông H không đồng ý; ông H yêu cầu bà K và ông R trả dần số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng cho ông H với mức 5.000.000 đồng/tháng cho đến khi dứt nợ thì bà K và ông R không đồng ý. Từ đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, vì việc trả số tiền hụi còn nợ theo phương thức nào (một lần, nhiều lần hay hàng tháng, hàng quý…) với số tiền phải trả từng lần là bao nhiêu thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án; sau khi bản án có hiệu lực pháp luật và chuyển sang giai đoạn thi hành án, các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau về phương thức trả số tiền còn nợ tại cơ quan thi hành án.

Ông H không yêu cầu tính lãi đối với số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét về vấn đề tiền lãi.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, giải quyết buộc bà K và ông R phải cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng.

Về án phí sơ thẩm: Ông H không phải chịu án phí sơ thẩm; bà K và ông R phải cùng chịu án phí sơ thẩm là 70.000.000 đồng x 5% = 3.500.000 đồng tương ứng trên số tiền hụi còn nợ bị Tòa án buộc trả cho ông H, nhưng do bà K và ông R là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp án phí sơ thẩm nên bà K và ông R được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

Căn cứ vào các Điều 280, 288, 357, 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15, điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 24, khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 23 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H về việc yêu cầu bà K và ông R trả số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng.

Buộc bà K và ông R phải cùng có nghĩa vụ trả cho ông H số tiền hụi còn nợ là 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông H đối với số tiền phải trả nêu trên cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bà K và ông R còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí sơ thẩm:

- Ông H không phải chịu án phí sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông H đã nộp là 1.750.000 đồng (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005492, ngày 14 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.

- Bà K và ông R được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Ông H, bà K và ông R vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ