vanban.org

Bản án 124/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty SV đối với bà Nguyễn Thị Ngọc M.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc M có nghĩa vụ trả cho Công ty SV số tiền 37.416.269đ (ba mươi bảy triệu bốn trăm mười sáu nghìn hai trăm sáu mươi chín đồng); trong đó: Nợ gốc 28.450.000đ (hai mươi tám triệu bốn trăm năm nghìn đồng), tiền lãi quá hạn 8.966.269đ (tám triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn hai tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê tài sản — án dân sự — "Hợp đồng cầm cố và thuê tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty SV đối với bà Nguyễn Thị Ngọc M.
  • Căn cứ chính? Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự; Điều 118 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 124/2025/DS-ST
Ngày: 09 - 5 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố,
vay tài sản và thuê tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.

Bà Trương Thị Thu Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thảo Vy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 347/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố, vay tài sản và thuê tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 218/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 263/2025/QĐST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty SV; trụ sở chính: 128 Nguyễn Du, phường BT, thành phố V, tỉnh Nghệ An; địa chỉ liên hệ: Số 242, Quốc lộ 91, khóm VL, thị trấn CD, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT – Chúc vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số 242, Quốc lộ 91, khóm VL, thị trấn CD, huyện C, tỉnh An Giang (theo giấy ủy quyền số 88/2025/UQ-SVN ngày 01/3/2025). Có mặt

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1989; cư trú tại: Số 47, tổ 3, ấp BT, xã BL, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 01/7/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Thị Ngọc T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 14/9/2023, bà M ký Hợp đồng cầm cố số CPM230901004 NA20X (viết tắt Hợp đồng cầm cố) với chi nhánh An Giang – An Phú 1 – Công ty SV (viết tắt Công ty). Tài sản cầm cố là xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH MODB, biển kiểm soát 67D2-019.33, số khung RLHJF5160LZ035429, số máy JF87E5261588, giấy chứng nhận đăng ký xe số 089719 do Công an huyện Châu Phú cấp ngày 18/6/2020. Số tiền bà M cầm cố cho Công ty là 30.080.000đ, thời hạn cầm cố 12 tháng, mục đích cầm cố phục vụ tiêu dùng cá nhân và kinh doanh, lãi suất trong hạn 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn 150%/tháng, phí quản lý hồ sơ cố định 0,5%/tháng, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán 8% giá trị phần nghĩa vụ vi phạm. Việc cầm cố tài sản được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định pháp luật tại Cục đăng ký Quốc Gia số đăng ký giao dịch 1522018030. Ngoài ra, bà M còn ký phụ lục hợp đồng ngày 14/9/2023 với Công ty với mục đích giao xe cho Công ty quản lý và cho phép Công ty được quyền cho thuê, cho mượn, khai thác công dụng tài sản cầm cố và hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản cầm cố. Do có nhu cầu sử dụng xe nên bà M đã ký với Công ty hợp đồng mượn xe mô tô nêu trên, thời gian mượn xe là 30 ngày kể từ ngày 14/9/2023 đến ngày 14/10/2023.

Sau khi ký hợp đồng cầm cố bà M chỉ trả cho Công ty nợ gốc 2.349.200đ, lãi trong hạn 338.800đ, phí mượn xe 616.000đ, phí quản lý hồ sơ 154.000đ. Vì vậy, nay Công ty khởi kiện yêu cầu bà M phải có nghĩa vụ trả cho Công ty tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/4/2025 là 49.761.074đ (trong đó: tiền gốc là 28.450.800đ, lãi trong hạn 1.907.556đ, lãi quá hạn 8.371.648đ, phí mượn xe 10.164.000đ, phí quản lý hồ sơ 867.071đ). Đồng thời, tiếp tục tính lãi và phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố và giấy mượn xe đã ký cho đến khi bà M thanh toán dứt nợ. Trường hợp bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, xử lý tài sản đã thế chấp để bảo đảm thu hồi nợ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, các văn bản tố tụng khác nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến về vụ án.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:

Đối với yêu cầu tính lãi trong hạn, phí quản lý hồ sơ cố định, phí mượn xe, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán thì Công ty tự nguyện xin rút lại. Công ty khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà M có nghĩa vụ trả tổng số tiền còn nợ tính từ ngày 14/10/2023 đến ngày 09/5/2025 là 37.417.070đ, trong đó: Nợ gốc 28.450.800đ, lãi quá hạn 8.966.270đ, đồng thời tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận kể từ ngày 10/5/2025 đến khi thanh toán xong nợ gốc. Trường hợp bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu Tòa án tuyên Công ty được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về việc giải quyết vụ án:

Công ty rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi trong hạn, phí quản lý hồ sơ cố định, phí mượn xe, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán là hoàn toàn tự nguyện. Căn cứ Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với các yêu cầu Công ty đã rút lại.

Công ty khởi kiện yêu cầu bà M trả tổng số tiền còn nợ tính từ ngày 14/10/2023 đến ngày 09/5/2025 là 37.417.070đ, trong đó: Nợ gốc 28.450.800đ, lãi quá hạn 8.966.270đ, đồng thời tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận kể từ ngày 10/5/2025 đến khi thanh toán xong nợ gốc và yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án khi bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Công ty khởi kiện yêu cầu bà M trả tiền cầm cố còn nợ, tiền thuê tài sản và tiền lãi, căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự, hợp đồng cầm cố tài sản, vay tài sản và thuê tài sản. Bà M có nơi cư trú tại huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú thụ lý giải quyết là đúng với quy định pháp luật.

Xét văn bản ủy quyền của Công ty là phù hợp với quy định pháp luật và không có căn cứ thể hiện người được ủy quyền thuộc trường hợp không được tham gia ủy quyền. Vì vậy, việc ủy quyền của Công ty được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[1.3] Bà Nguyễn Thị Ngọc M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Công ty cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là Hợp đồng cầm cố, giấy mượn xe, phiếu đăng ký cầm xe gắn máy, phiếu chi cùng đề ngày 14/9/2023 và văn bản chứng nhận đăng ký biện pháp bảo đảm, thông báo xử lý tài sản bảo đảm của Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành phố Hà Nội ngày 22/12/2023. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà M không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ do Công ty cung cấp, không tham các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nên thuộc trường hợp những tinh tiết, sự kiê ̣n không phải chứ ng

̀

minh được quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Công ty cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án:

Công ty và bà M xác lập hợp đồng cầm cố, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thuê tài sản trên cơ sở tự nguyện, hình thức giao dịch bằng văn bản. Khi xác lập giao dịch các bên đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nội dung và mục đích của giao dịch không trái quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 309, Điều 310, Điều 463 và Điều 472 của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng đã ký giữa Công ty với bà M là phù hợp với quy định, do đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch.

Tại phiên tòa đại diện Công ty rút lại yêu cầu tính lãi trong hạn, phí quản lý hồ sơ cố định, phí mượn xe, phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xét việc rút lại yêu cầu của Công ty là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ đối với yêu cầu nêu trên.

Về nợ gốc: Tại Hợp đồng cầm cố và phiếu chi cùng đề ngày 14/9/2023 thể hiện số tiền bà M nhận của Công ty là 30.800.000đ, quá trình thực hiện hợp đồng bà M đã trả nợ gốc được 2.349.000đ, còn lại 28.450.000đ đến nay vẫn chưa thanh toán. Xét thấy, thời gian cầm cố theo Hợp đồng cầm cố là 12 tháng, mục đích cầm cố tài sản để đảm bảo cho khoản vay của bà M, tuy nhiên đến nay đã quá thời gian thỏa thuận nhưng bà M không thực hiện trả nợ là vi phạm nghĩa vụ. Do đó, Công ty khởi kiện yêu cầu bà M trả nợ gốc 28.450.000đ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tiền lãi quá hạn: Công ty yêu cầu tính lãi suất quá hạn là 1,65%/tháng (bằng 150%/tháng của lãi suất trong hạn 1,1%/tháng) từ ngày 14/10/2023 tạm tính đến ngày 09/5/2025 là 8.966.269đ và tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cầm cố kể từ ngày 10/5/2025 đến khi trả xong nợ gốc. Xét quá trình thực hiện hợp đồng bà M vi phạm nghĩa vụ trả gốc và lãi nên khoản nợ đã chuyển sang quá hạn kể từ ngày 14/10/2023 theo thỏa thuận tại Điều 6 của Hợp đồng cầm cố. Vì vậy, Công ty yêu cầu tính lãi quá hạn với thời gian và lãi suất nêu trên và đồng thời tiếp tục tính lãi quá hạn phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 5 Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích và chấp nhận của Hội đồng xét xử nêu trên tổng số tiền bà M phải có nghĩa vụ trả cho Công ty là 37.416.269đ, trong đó: Nợ gốc 28.450.000đ, tiền lãi quá hạn 8.966.269đ.

Xét thấy, tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Hà Nội theo số công chứng 1522018030 ngày 22/12/2023. Do đó, Công ty yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án khi bà M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ là phù hợp với quy định tại Điều 295, Điều 298 và Điều 299 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của Công ty được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Công ty được nhận lại tạm ứng án phí đã nộp. Bà M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, Điều 217, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 309, Điều 310, Điều 466, Điều 468 và Điều 472 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty SV đối với bà Nguyễn Thị Ngọc M.

Buộc bà Nguyễn Thị Ngọc M có nghĩa vụ trả cho Công ty SV số tiền 37.416.269đ (ba mươi bảy triệu bốn trăm mười sáu nghìn hai trăm sáu mươi chín đồng); trong đó: Nợ gốc 28.450.000đ (hai mươi tám triệu bốn trăm năm nghìn đồng), tiền lãi quá hạn 8.966.269đ (tám triệu chín trăm sáu mươi sáu nghìn hai trăm sáu mươi chín đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền 28.450.000đ (hai mươi tám triệu bốn trăm năm nghìn đồng) theo mức lãi suất 1,65%/tháng.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty SV được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Hà Nội theo số công chứng 1522018030 ngày 22/12/2023 để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty SV đối với bà Nguyễn Thị Ngọc M về yêu cầu tính lãi trong hạn, phí quản lý hồ sơ cố định, phí mượn xe và phí phạt vi phạm nghĩa vụ thanh toán.

3. Về án phí dân sự:

Bà Nguyễn Thị Ngọc M phải chịu 1.871.000đ (một triệu tám trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Công ty SV được nhận lại 1.167.000đ (một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0009057 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ