vanban.org

Bản án 124/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Dương Văn V.

2 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị L đã nộp theo biên lai số: 0001389 ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "L và V tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? 1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Dương Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NGHĨA HƯNG
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 12 - 9 - 2024.
V/v: Kiện xin ly hôn, con chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích .

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Vui;

2. Ông Vũ Mạnh Toàn.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tuấn Tú – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 68/2024/TLST - HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024. Về tranh chấp xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2024/QĐST - HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa:

+ Nguyên đơn: Chị Phạm Thị L, sinh năm 1978. Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

+ Bị đơn: Anh Dương Văn V, sinh năm 1973. Địa chỉ: Xóm H, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa vắng mặt chị L, anh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị L vắng mặt. Đơn khởi kiện lập ngày 28/11/2023 cũng như lời khai chị L trong quá trình giải quyết vụ án thể hiện: Chị kết hôn với anh Dương Văn V vào tháng 12/1997 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ đầu năm 2021, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng mâu thuẫn về làm ăn kinh tế. Đến tháng 4/2021 do không thể hàn gắn, vợ chồng chị sống ly thân từ đó, trong thời gian ly thânmặc dù được gia đình khuyên giải nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Dương Văn V.

Về con chung: Chị Phạm Thị L xác định giữa chị và anh V có hai con chung là cháu Dương Văn L1, sinh ngày 02/01/1998 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 03/12/2001. Hiện hai con đã trưởng thành tự lập được nên chị không yêu cầu giải quyết cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí chị đề nghị giải quyết theo quy định.

Tại phiên toà hôm nay anh Dương Văn V vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã triệu tập anh Dương Văn V đến Tòa án để làm việc nhưng anh V không hợp tác. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã làm việc với mẹ đẻ anh V là bà Hoàng Thị H1 và tiến hành niêm yết đầy đủ những văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử tại phiên toà hôm nay Thẩm phán thụ lý giải quyết cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q:

-

Quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Dương Văn V;

-

Con chung, tài sản chung không yêu cầu giải quyết

-

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị L Phạm Thị L phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào lời trình bày của đương sự và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Anh Dương Văn V và chị Phạm Thị L đều đăng ký hộ khẩu thường trú và đang cư trú tại xã N huyện N tỉnh Nam Định. Nay chị Phạm Thị L xin ly hôn anh Dương Văn V và được Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay anh Dương Văn V và chị Phạm Thị L đều vắng mặt. Chị L có đơn xin xét xử vắng mặt, anh V đã được Tòa án triệu tập, niêm yết công khai nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị L và anh V là phù hợp với khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Phạm Thị L và anh Dương Văn V vào tháng 12 năm 1997 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, hyện N, tỉnh Nam Định là một hôn nhân tự do, tiến bộ và có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn vợ chồng đã có thời gian chung sống hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống và mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến cãi chửi nhau, gia đình hai bên khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 4/2021 cho đến nay, trong thời gian ly thân không ai quan tâm đến ai. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh V không còn nên đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định đã tống đạt, niêm yết đầy đủ văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng cho anh Dương Văn V nhưng anh V có tình vắng mặt không có quan điểm về việc giải quyết vụ án. Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên Tòa có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị L và anh V.

Xét việc xin ly hôn của chị Phạm Thị L và đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát Hội đồng xét xử thấy: Trên thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh V đã kéo dài và ngày một trầm trọng, hôn nhân đã tan vỡ, chị L xin ly hôn anh V nên chấp nhận là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thị L và anh Dương Văn V có hai con chung là cháu Dương Văn L1, sinh ngày 02/01/1998 và cháu Dương Văn H, sinh ngày 03/12/2001. Hiện cháu L1 và cháu H đã trưởng thành tự lập được nên chị L không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung vợ chồng: Chị Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết vì vậy không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng về việc giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 6 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1 - Xử ly hôn giữa chị Phạm Thị L và anh Dương Văn V.

2 - Án phí dân sự sơ thẩm chị Phạm Thị L phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị chị L đã nộp theo biên lai số: 0001389 ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng, chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Báo cho người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ