- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi lại tài sản"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 164 Bộ luật Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2024/DS-PT Ngày: 20 - 3 - 2024. V/v tranh chấp đòi lại tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Nam
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Ngọc Giàu;
Ông Hồ Văn Cường.
- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Bảo Thoa, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh: bà Nguyễn Thị Gọn, Kiểm sát viên tham gia phien tòa.
Ngày 20 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 429/2023/TLPT-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 02/2023/QĐPT-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1971; nơi cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt có ủy quyền.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Huỳnh N, sinh năm 1990; nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Tây Ninh (theo hợp đồng ủy quyền ngày 31-8-2022); có mặt.
2. Bị đơn: ông Phùng Văn H, sinh năm 1962; địa chỉ: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị Xuân T, sinh năm 1967; nơi cư trú: khu phố L, phường T, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: ông Phùng Văn H là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn B và người đại diện hợp pháp chị Nguyễn Thi Huỳnh N1 trình bày:
Năm 2020 các ông Nguyễn Văn B, ông Võ Văn L, anh Lâm Văn S và ông Phùng Văn H thỏa thuận chuyển nhượng đất cho bà Trần Thị Xuân T, cụ thể: ông B là 10.000m2, anh S là 6.882m2, ông H là 3.700m2 và ông L là 11.050m2. Giá chuyển nhượng 900.000.000 đồng/mẫu. Cả 04 người thống nhất để ông B đại diện nhận tiền cọc từ bà T nên ngày 06-8-2020, ông B gặp bà Thu nhận tiền cọc 500.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền cọc từ bà T chiều ngày 06-8-2020 ông B đã giao lại tiền cọc cho anh S 100.000.000 đồng, giao cho ông L 200.000.000 đồng, giao cho ông H 100.000.000 đồng và ông Bửu giữ lại 100.000.000 đồng.
Khi ông B giao tiền cọc cho ông H, có viết “Giấy nhận tiền cọc” đề ngày 06-8-2020 và ông H ký tên sau đó đưa cho ông Bửu giữ. Nội dung giấy nhận tiền cọc là ông H chuyển nhượng cho bà T phần đất có diện tích 37 cao và nhận 100.000.000 đồng tiền cọc.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng xảy ra tranh chấp nên bà T khởi kiện yêu cầu ông B trả lại số tiền cọc 500.000.000 đồng. Vụ án được Tòa án xét xử và tuyên buộc ông B trả lại số tiền cọc đã nhận cho bà T là 500.000.000 đồng. Ông B đã trả số tiền cọc 100.000.000 đồng cho bà T và ông L cũng đã trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng cho bà T, còn lại số tiền cọc 200.000.000 đồng giao cho anh S và ông H chưa thi hành được. Ông B đã nhiều lần yêu cầu anh S và ông H trả lại số tiền cọc để có tiền thi hành án cho bà T nhưng không được nên ông B mới khởi kiện ra Tòa án.
Tiền cọc bán đất ông B giao trực tiếp cho ông H, không liên quan tới bà Nguyễn Thị T1 là vợ ông H. Nên ông B chỉ yêu cầu một mình ông H có nghĩa vụ trả cho ông B số tiền cọc bán đất là 100.000.000 đồng. Ngoài ra không còn yêu cầu gì khác.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Phùng Văn H trình bày: năm 2020 ông H có đồng ý bán 3700m2 đất với giá 900.000.000 đồng/mẫu cho bà T và giao cho ông B làm thủ tục (ông B là cò đất). Ngày 06-8-2020, ông B đưa cho ông H 100.000.000 đồng tiền cọc mua đất của bà T. Ông H có yêu cầu được gặp bà T nhưng ông B không đồng ý mà nói khi nào ra công chứng sẽ nhận đủ tiền. Khi nhận tiền cọc từ ông B, ông H có làm giấy tay nội dung trong vòng 20 ngày nếu bên mua giấy tờ làm không xong thì bị mất cọc, còn bên bán nếu lật lọng thì một đền hai.
Ông H không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông B vì ông H bán đất cho bà T, không bán đất cho ông B. Do bên mua đất không làm đúng thời hạn đã giao nên mất cọc.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Xuân T trình bày: ngày 06-8-2020 ông B có nhận của bà T 500.000.000 đồng tiền đặt cọc mua 04ha đất với giá 1.025.000.000 đồng/ha. Tuy nhiên khi kiểm tra hiện trạng đất thì không đúng như thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp. Sau đó bà T khởi kiện ông B và Tòa án đã tuyên buộc ông B trả lại 500.000.000 đồng tiền đặt cọc mua đất cho bà T. Bà T không biết ông H là ai, không có ý kiến gì về việc ông B tranh chấp với H. Việc tranh chấp giữa bà T và ông B đã được Tòa án giải quyết xong nên bà không liên quan gì trong vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:
Căn cứ Điều 164, 166, 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” đối với bị đơn ông Phùng Văn H.
2. Buộc ông Phùng Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, bị đơn ông Phùng Văn H kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm sửa án sơ thẩm, ông không đồng ý trả cho ông B số tiền 100.000.000 đồng, vì ông không vi phạm hợp đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Phùng Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn B vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không đồng ý với nội dung kháng cáo của ông Phùng Văn H.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến khi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Phùng Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1.1] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn B vắng mặt, có người đại diện tham gia phiên tòa. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Xuân T có yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11-10-2023 ông Phùng Văn H có đơn kháng cáo. Qua xem xét, Đơn kháng cáo của ông H trong thời hạn luật định và hợp pháp theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án; bị đơn ông Phùng Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Xét kháng cáo của bị đơn ông Phùng Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Ông H kháng cáo cho rằng ông có thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông B và ngày 06-8-2020 ông có viết giấy nhận cọc, có nhận của bà T 100.000.000 đồng với giao kết trong thời hạn 20 ngày bên mua hoàn tất thủ tục. Nhưng do bên mua đã không đúng hẹn, xem như bên mua (bà Trần Thị Xuân T, ông Nguyễn Văn B) đã vi phạm hợp đồng. Căn cứ vào giấy nhận cọc thì ông không phải là người vi phạm hợp đồng, nên ông không đồng ý trả 100.000.000 đồng cho ông B. Ông B mua đất của ông bán lại cho ai thì ông không biết, ông B không cho gặp người mua, vì ông Bửu bán đất cho ông để hưởng tiền hoa hồng 14.000.000 đồng.
Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 17 - 4 - 2023, ông H đều khai nhận có nhận tiền cọc do ông B đưa và có viết giấy nhận tiền cọc của bà T và căn cứ theo “Giấy nhận tiền cọc” ngày 06-8-2020 do ông ký tên và ghi rõ “Tôi tên: Phùng Văn H có bán 37 Cao cho chị Trần Thị Xuân T chồng cọc 100 triệu đồng..”. Như vậy, thể hiện ông H biết việc chuyển nhượng đất cho bà Trần Thị Xuân T không phải chuyển nhượng đất cho ông B và không phải ông B nhận chuyển nhượng của ông H sau đó chuyển nhượng lại cho bà T
Theo hồ sơ vụ án “Tranh chấp đòi tiền cọc” giữa nguyên đơn bà Trần Thị Xuân T với bị đơn ông Nguyễn Văn B, thể hiện: Năm 2020 ông B có đứng ra thỏa thuận chuyển nhượng cho bà T phần đất có diện tích khoảng 04 mẫu; trong đó: Phần diện tích đất của ông B là 10.000 m2; phần diện tích đất của ông S là 6.882 m2; phần diện tích đất của ông H là 3.700 m2; phần diện tích đất của ông L là 11.050 m2. Ngày 06-8-2020, ông B có viết giấy thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhận cọc của bà T số tiền 500.000.000 đồng; cùng ngày ông B giao cho ông L 200.000.000 đồng; giao cho ông S 100.000.000 đồng; giao cho ông H 100.000.000 đồng và ông Bửu giữ lại 100.000.000 đồng.
Các bên đều có viết “Giấy nhận tiền cọc” của bà Trần Thị Xuân T. Điều này chứng minh rằng ông B chỉ là người đại diện cho 04 người (ông S, ông L, ông H và ông B) đứng ra thỏa thuận chuyển nhượng và nhận tiền đặt cọc 500.000.000 đồng của bà T đem về giao lại cho ông S, ông L, ông H và ông B.
Việc thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà T không được thực hiện, nên bà T khởi kiện đòi tiền cọc 500.000.000 đồng mà ông B đã nhận và tại Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2022/DS-ST, ngày 26-01-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng (đã có hiệu lực pháp luật), thì ông B có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền cọc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Do đó, ông B khởi kiện đòi ông H trả lại cho ông số tiền 100.000.000 đồng mà ông B trả lại cho bà T là có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên chấp nhận yêu cầu hởi kiện của ông B; buộc ông H có nghĩa vụ trả cho ông B số tiền 100.000.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy ông B kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh hay tình tiết nào mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên có căn cứ chấp nhận.
Về án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm: do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn B được chấp nhận và kháng cáo của ông Phùng Văn H không được chấp nhận nên ông Phùng Văn H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên căn cứ Căn cứ Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH1430-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ông Phùng Văn H là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí tại cấp phúc thẩm nên thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm nên cần sửa bản án sơ thẩm về án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phùng Văn H.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
Căn cứ Điều 164, 166, 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn B về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản” đối với bị đơn ông Phùng Văn H.
2. Buộc ông Phùng Văn H có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn B số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 99/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
3.1 Ông Phùng Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
3.2. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn B 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0026887 ngày 09-11-2022, của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Phùng Văn H được miễn án phí dân sự phúc thẩm; Hoàn trả cho ông Phùng Văn H 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí ông H đã nộp theo Biên lai thu số 0027628, ngày 11-10-2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án dân sự hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tây Ninh; - TAND TX Trảng Bàng; - Chi cục THADS TX Tr. Bàng; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án dân sự; - Lưu VP TAND tỉnh. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nam |