vanban.org

Bản án 124/2023/HSST — Hình sự

TAND TX. Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 27/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g, khoản 2, Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 329 BLTTHS: Xử phạt: Trần Văn Th 38 (Ba mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/10/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TỪ SƠN
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2023/HSST
Ngày 27/04/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trần Trường và ông Nguyễn Như Điệu.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Chinh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Sỹ Quản, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 04 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 124/2023/TLST-HS, ngày 05 tháng 04 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 17/04/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Th, sinh năm 1995; ĐKHKTT: Khu phố T, Phường ĐB ,Thành phố Từ Sơn ,Tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1965; Gia đình bị cáo có 02 anh anh em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Con: Chưa có; Tiền sự: Không.

Tiền án: Tại bản án số 181 ngày 21/7/2018 của Toà án nhân dân Thị xã Từ Sơn (Nay là Thành phố Từ Sơn ) áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Văn Th 30 tháng tù và phạt bổ sung 5 triệu đồng về tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung ngày 12/11/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2020.

Tại Bản án số 38, ngày 17/12/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh áp dụng Điểm h, khoản 1 Điều 52, Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, xử phạt Trần Văn Th 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/10/2021.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2022 cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989 (có mặt);

Trú tại: khu phố T, phường ĐB, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Ngô Văn N, sinh năm 1989 (vắng mặt);

ĐKHKTT: khu phố Ng, phường Đ, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

- Chị Đặng Thị Nh, sinh năm 1995 (có mặt);

ĐKHKTT: Kim Quan, Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/08/2022 tại khu phố T, phường ĐB ,thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, Trần Văn Th đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 12 Pro màu xanh trị giá 16.000.000 triệu đồng và số tiền 10.450.000 đồng trong tài khoản Ngân hàng Viettinbank của chị Nguyễn Thị Thanh H. Tổng trị giá tài sản và số tiền Trần Văn Th chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thanh H là 26.450.000 đồng.

Ngày 03/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản thường xuyên thành phố Từ Sơn xác định giá trị 01 điện thoại Iphone 12 pro 128 GB mầu xanh.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 82/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố Từ Sơn kết luận: “01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro 128G màu xanh có giá trị tại thời điểm tháng 8/2022 là 16.000.000 đồng”.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn Th khai nhận: Trần Văn Th, sinh năm 1995, trú tại khu phố T, phường ĐB, thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh là đối tượng sử dụng ma túy, không có nghề nghiệp ổn định.

Khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 15/8/2022, Trần Văn Th đi từ nhà ở Khu phố T, phường ĐB, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh lên Phường ĐN, thành phố Từ Sơn chơi. Khi đi qua quán nước của chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1989 ở Khu phố T, phường ĐB, thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh thì Th rẽ vào mua nước uống. Khi vào trong quán nước, Th gọi chủ quán nhưng không thấy có người trả lời. Lúc này, Th nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Th đi đến gần nhìn qua cửa nhà thấy chị H đang nằm ngủ ở giữa nền nhà, bên cạnh chị H nằm, dưới nền nhà có để một chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 pro màu xanh. Th tiếp tục gọi chị H nhưng thấy chị H vẫn ngủ. Th tiến đến gần chị H dùng tay phải lấy chiếc điện thoại Iphone 12 pro rồi đi ra ngoài. Sau khi trộm cắp được chiếc điện thoại trên, Th kiểm tra thấy điện thoại có mật khẩu, màn hình điện thoại có tin nhắn thông báo của Ngân hàng Vietinbank. Th cầm chiếc điện thoại đến khu nhà trọ của Ngô Văn N, sinh năm 1989 trú tại Khu phố Ng, phường Đ, thành phố Từ Sơn trọ tại Khu phố Tam Lư, phường Đồng Nguyên, thành phố Từ Sơn chơi. Trên đường đi, Th xem lại thông báo của Ngân hàng Vietinbank trên màn hình điện thoại của chị H thì phát hiện có số tài khoản Ngân hàng Vietinbank của chị H. Khi đến phòng trọ của N, Th tháo chiếc sim số điện thoại từ máy điện thoại của chị H ra và lắp vào máy điện thoại Iphone 6 màu đen của Th với mục đích để xem chị H dùng số điện thoại này liên kết với Ngân hàng như thế nào để Trộm cắp tiền từ tài khoản của chị H. Sau khi lắp xong Th biết số điện thoại này là 0974.095.644. Th tra cứu thông tin số điện thoại trên thì biết số điện thoại mang tên Nguyễn Thị Thanh H; Ngày tháng năm sinh của chị H là 23/01/1989 và số căn cước công dân của chị H. Th tải ứng dụng chuyển tiền Ví Momo (Ví MoMo là một nền tảng ví điện tử do Công ty Cổ phần Dịch vụ Di động Trực tuyến (M_Service), địa chỉ: Tầng 6, Tòa nhà Mecury, số 444, Hoàng Hoa Thám, phường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội phát triển cho phép người dùng thực hiện các thanh toán, giao dịch trên các thiết bị di động khi được liên kết với các Ngân hàng tại Việt Nam) về máy điện thoại của Th và dùng số điện thoại trên để đăng nhập vào tài khoản Ví Momo của chị H. Th nhập một dãy số ký tự mật khẩu theo ngày tháng năm sinh của chị H là 230189 thì vào được tài khoản. Th thấy tài khoản Ví Momo của chị H hiện tại đang liên kết với tài khoản của một Ngân hàng. Th rút tiền từ tài khoản Ngân hàng về Ví Momo thì không rút được do tài khoản Ngân hàng không có tiền. Sau đó, Th liên kết Ví Momo này với tài khoản Ngân hàng Vietinbank số 103003016905 của chị H. Ngày 17/8/2023 Th xin của Ngô Văn N số tiền 60.000 đồng, bảo N chuyển vào số tài khoản ví Momo của chị H. Sau đó, Th chuyển số tiền này từ ví Momo của chị H về tài khoản Ngân hàng Vietinbank của chị H số 103003016905 với mục đích xem biến động số dư trong tài khoản Ngân hàng Vietinbank của chị H để tiếp tục trộm cắp.

Từ ngày 15/8/2022 đến ngày 17/8/2022, Th rút tổng số tiền 10.450.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng Vietinbank trên về Ví Momo của chị H và chuyển khoản số tiền 3.350.000 đồng cho Ngô Văn N để trả nợ; Chuyển số tiền 2.500.000 đồng cho Đặng Thị Nh, sinh năm 1995 để nhờ Nh rút tiền về đưa cho Th tiêu xài cá nhân; Số tiền còn lại Th chuyển khoản đến tài khoản Ví Momo số 0567539371 mang tên NGÔ VIẾT NAM của Ngô Viết Nam với mục đích nạp thẻ chơi game trên mạng.

Về chiếc điện thoại Iphone 12 Pro 128G màu xanh trộm cắp được của Chị H. Th mang chiếc điện thoại đến cửa hàng Thanh Huề ở Khu phố Lễ Xuyên, phường Đồng Nguyên, thành phố Từ Sơn, Bắc Ninh gặp chị Phan Thị Khuyên, sinh năm 1987 trú tại địa chỉ nêu trên và bán chiếc điện thoại trên cho chị Khuyên với giá 10.000.000 đồng, Th đã chi tiêu hết số tiền này. Sau khi mua được chiếc điện thoại, chị Khuyên đã bán cho người không quen biết với giá 11.000.000 đồng. Đến chiều tối ngày 19/8/2022, tài khoản ví momo của chị H bị đăng xuất trên máy điện thoại của Th. Th kiểm tra lại chiếc sim 0974.095.644 thì không thấy có cột sóng. Lúc này Th biết chiếc Sim này đã được chủ sở hữu lấy lại. Sau đó, Th vứt chiếc sim này đi.

Ngày 12/10/2022, Trần Văn Th đến Công an thành phố Từ Sơn đầu thú khai nhận hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, phía trước ngực trái có hình lô gô xanh, vàng, phía sau lưng áo có hình lô gô vàng và 2 chữ LV màu trắng, là chiếc áo Th mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của chị H.

Ngày 21/12/2022, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh Tiên Sơn cung cấp sao kê chi tiết giao dịch tài khoản số 103003016905 của Nguyễn Thị Thanh H từ ngày 15/8/2022 đến ngày 19/8/2022 thể hiện việc Th rút tiền từ tài khoản Ngân hàng Vietinbank của chị H về ví Momo của chị H như sau:

Từ 14 giờ 56 phút đến 15 giờ 13 phút, ngày 15/8/2022 Th rút được số tiền là 5.900.000 đồng.

Từ 12 giờ 19 phút đến 18 giờ 24 phút, ngày 16/8/2022 Th rút được số tiền là 4.050.000 đồng

Hồi 17 giờ 58 phút, ngày 17/8/2022, Th rút được số tiền là 560.000 đồng (trong đó có 60.000 đồng Th chuyển vào tài khoản của chị H để kiểm tra số dư)

Tổng số tiền 10.510.000 đồng.

Bản cáo trạng số: 64/CT-VKSTS, ngày 05/04/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố Trần Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm g Khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn giữ quyền công tố trước phiên toà sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử;

Áp dụng: điểm g, khoản 2, Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;

Xử phạt Trần Văn Th từ 36 tháng đến 40 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/10/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 585; 589 Bộ luật dân sự;

Bị cáo Trần Văn Th phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh H số tiền tương ứng với trị giá 01 điện thoại Iphone 12 pro 128 GB mầu xanh, theo kết luận định giá tài sản là 16.000.000 đồng và số tiền 10.450.000 đồng trong tài khoản Ngân hàng Viettinbank của chị Nguyễn Thị Thanh H.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, phía trước ngực trái có hình lô gô xanh, vàng, phía sau lưng áo có hình lô gô vàng và 2 chữ LV màu trắng.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[ 2 ] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với không gian, thời gian, đơn trình báo và lời trình bầy của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và lời khai của người làm chứng, tang vật đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm được quy định tại khoản 2 Điều 173 BLHS đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi của bị cáo gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[ 3 ] Xét nhân thân và Th độ của bị cáo HĐXX nhận thấy:Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, được gia đình nuôi cho ăn học đến lớp 12 nhưng với lối sống buông thả, thiếu trách nhiệm với bản thân và gia đình, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy. Với bản chất thích ăn chơi, lười lao động và để có tiền nhằm thỏa mãn cho những nhu cầu ích kỷ của bản thân các ngày 15/08/2022 Trần Văn Th đã có hành vi trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 12 Pro màu xanh trị giá 16.000.000 triệu đồng và số tiền 10.450.000 đồng trong tài khoản Ngân hàng Viettinbank của chị Nguyễn Thị Thanh H. Tổng trị giá tài sản và số tiền Trần Văn Th chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Thanh H là 26.450.000 đồng hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 BLHS.

Xét thấy, cần có một mức hình phạt nghiêm khắc,tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, bị cáo là người nghiện ma túy, có lối sống buông thả, không chịu làm ăn, không biết tu dưỡng rèn luyện bản thân. Qua đây, thể hiện Th độ coi thường pháp luật của bị cáo nên Hội đồng xét xử nhận thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích gia đình và xã hội. Song khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì xét thấy sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã có Th độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện, bị cáo đã đến Cơ quan điều tra đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Th ba lần trộm cắp tài sản của chị H, do vậy phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm ổn định, gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền là có căn cứ

[ 4 ] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Thanh H yều cầu Th bồi thường cho chị H trị giá chiếc điện thoại Iphone 12 Pro là 16.000.000 đồng và số tiền Th chiếm đoạt trong tài khoản của chị H là 10.450.000 đồng. Tổng số là 26.450.000 đồng. Xét thấy, đây là các yêu cầu hợp lý nên được chấp nhận. Do vậy, yêu cầu bị cáo Trần Văn Th phải trả cho chị H số tiền 26.450.000 đồng.

[ 5 ] Đối với Phan Thị Khuyên là người mua chiếc điện thoại Iphone 12 Pro 128G màu xanh của Th. Chị Khuyên không biết điện thoại trên do Th trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý. Sau khi mua được chiếc điện thoại, chị Khuyên đã bán cho người không quen biết với giá 11.000.000 đồng. Chị Khuyên trình bày không biết tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm của người mua chiếc điện thoại trên nên không có căn cứ xác minh. Cơ quan điều tra đã ra Thông báo truy tìm chiếc điện thoại trên nhưng đến nay chưa thu hồi được.

Về Sim số điện thoại 0974.095.644 của chị Nguyễn Thị Thanh H, Th khai nhận sau khi biết chị H lấy lại số điện thoại trên thì Th đã vứt chiếc sim này đi. Th không nhớ vứt ở đâu. Hiện tại chị H đã lấy lại chiếc Sim trên và đang sử dụng, Chị H không có đề nghị gì về chiếc sim nêu trên.

Đối với Ngô Văn N không biết số tiền Th chuyển cho N để trả nợ là tiền Th trộm cắp mà có, N đã chi tiêu hết số tiền này.

Đối với Đặng Thị Nh không biết số tiền Th chuyển cho Nh và nhờ Nh rút hộ cho Th là tiền Th trộm cắp mà có. Nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý Nh là đúng quy định của pháp luật.

Về tài khoản Ví Momo số 0567539371 mang tên NGÔ VIẾT NAM được xác định là của Ngô Viết Nam, sinh ngày 19/8/1994, trú tại Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội có số CCCD: 038789312873. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an xã Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội xác định không có người nào có lai lịch như trên. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

[ 6 ] Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, phía trước ngực trái có hình lô gô xanh, vàng, phía sau lưng áo có hình lô gô vàng và 2 chữ LV màu trắng.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Điểm g, khoản 2, Điều 173; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, Điều 329 BLTTHS:

Xử phạt: Trần Văn Th 38 (Ba mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/10/2022.

Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/04/2023.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 585, 589 BLDS.

Buộc bị cáo Trần Văn Th phải bồi thường cho chị Nguyễn Thị Thanh H số tiền là 26.450.000 đồng;

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án nếu người phải thi hành án không tự giác thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo phông cộc tay màu đen, phía trước ngực trái có hình lô gô xanh, vàng, phía sau lưng áo có hình lô gô vàng và 2 chữ LV màu trắng.

Về án phí: Áp dụng điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.322.000 đồng đồng án phí DSST.

Áp dụng: Điều 331; 332; 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp phần trách nhiệm dân sự của bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ