- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Ngọc L - Đỗ Khắc Du"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2023/HNGĐ-ST Ngày 27-12-2023 V/v: “Ly hôn, nuôi con chung giữa chị L và anh D” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NT, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hà;
Ông Trần Xuân Chỉnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NT, tỉnh Nam Định.
- ại di n Vi n ki m s t nh n d n hu n NT t nh am ịnh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tình - iểm sát vi n.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện NT, Toà án nhân dân huyện NT xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 177/2023/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Ngọc L, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: đội 1 thôn X H, xã ĐX, huyện N G, tỉnh Hải Dương; Nơi ở hiện nay: 2/4 Phan Bội Châu, phường C T, thành phố H D, tỉnh Hải Dương;
Bị đơn: Anh Đỗ hắc D, sinh năm 1984. Địa chỉ: xóm 15, xã NT, huyện NT, tỉnh Nam Định.
(Chị L, anh D xin xét xử vắng mặt);
NỘI DNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguy n đơn chị Phạm Thị Ngọc L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D đăng ký kết hôn với nhau ngày 28-10-2005 tại Uỷ ban nhân dân xã NA, huyện NT, tỉnh Nam Định tr n cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống không hạnh phúc, nguy n nhân là do cách sống của hai vợ chồng không hợp nhau, thường bất đồng quan điểm. Anh D không tu trí làm ăn, chơi cờ bạc và không quan tâm vợ con. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị L nhận thấy tình cảm của chị đối với anh D không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh D. Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải giữa chị và anh D.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đỗ hắc T, sinh ngày 11-01-2007 và Đỗ hắc T, sinh ngày 28-12-2009. Hiện nay 02 con chung đang ở cùng chị L, từ khi vợ chồng sống ly thân, anh D không quan tâm đến con và cũng không cấp dưỡng gì cho con. hi ly hôn, chị L có nguyện vọng tiếp tục nhận nuôi 02 con chung và không y u cầu anh D cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L xác nhận vợ chồng không có, không y u cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 29-11-2023 và đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn anh Đỗ hắc D có lời khai phù hợp với lời khai của chị L về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và thời gian vợ chồng sống ly thân. Theo anh D sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012 thì anh D đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Năm 2015 anh D về Việt Nam, khi về Việt Nam thì tình cảm vợ chồng lạnh nhạt không còn quan tâm đến nhau do thời gian xa cách lâu ngày. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay chị L có đơn xin ly hôn anh, anh D xác định không còn tình cảm với chị L n n anh cũng nhất trí ly hôn với y u cầu xin ly hôn của chị L. Về con chung, anh D xác nhận vợ chồng có 02 con chung là Đỗ hắc T, sinh ngày 11-01-2007 và Đỗ hắc T, sinh ngày 28-12-2009. Hiện nay 02 con chung đang ở cùng chị L, khi ly hôn anh cũng đồng ý để chị L tiếp tục nuôi con chung, anh D sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho chị L theo khả năng của anh. Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh D xác nhận vợ chồng không có n n không y u cầu Tòa án giải quyết.
Chị L và anh D đề nghị được vắng mặt tại phi n tòa xét xử vụ án.
Qua xác minh nguy n nhân mâu thuẫn của chị L và anh D tại nơi cư trú: Đại diện Ủy ban nhân dân xã NA cho biết chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D có đăng ký kết hôn tháng 10-2005 tại Uỷ ban nhân dân xã NA, huyện NT, tỉnh Nam Định. Quá trình chung sống, anh D và chị L sống không hạnh phúc, vợ chồng có hai con chung, anh D hiện vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương còn chị L và hai con không sinh sống tại địa phương, anh D chị L mâu thuẫn như thế nào, nguy n nhân từ đâu địa phương không nắm rõ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NT tại phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phi n tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội Dng:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ- UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Về hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D.
Về nuôi con chung: Giao hai con chung là Đỗ hắc T, sinh ngày 11-01-2007 và Đỗ hắc T, sinh ngày 28-12-2009 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị L không y u cầu anh D phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị L. Anh D có mọi quyền, nghĩa vụ đối với con chung.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L và anh D xác nhận vợ chồng không có, không y u cầu Tòa án giải quyết n n không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Phạm Thị Ngọc L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L, anh D là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng tr n cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã NA, huyện NT, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 28-10-2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguy n nhân là do tính tình, quan điểm sống không hòa hợp. Anh D không tu trí làm ăn, chơi cờ bạc và không quan tâm vợ con. Từ năm 2016 đến nay vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ, tình cảm, trách nhiệm đối với nhau. Nay chị L xác định mục đích hôn nhân không đạt được n n xin ly hôn anh D, anh D cũng xác định không còn tình cảm với chị L n n cũng nhất trí ly hôn.
Xét y u cầu xin ly hôn của chị L đối với anh D, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh D là có thật, việc mâu thuẫn xuất phát từ việc chị L nhận thấy giữa chị và anh D tính tình và quan điểm sống không hợp, anh D chơi cờ bạc không quan tâm vợ con, tình cảm vợ chồng từ đó lạnh nhạt, không còn hạnh phúc. Vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm, trách nhiệm với nhau từ năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị L và anh D đều không có biện pháp, hành động nhằm hàn gắn tình cảm và mong muốn cuộc sống chung của vợ chồng tiếp tục tồn tại. Quá trình giải quyết vụ án chị L đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải và cho chị được ly hôn với anh D. Mặt khác, theo anh D sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2012 thì anh D đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Năm 2015 anh D về Việt Nam, khi về Việt Nam thì tình cảm vợ chồng lạnh nhạt không còn quan tâm đến nhau do thời gian xa cách lâu ngày. Nay anh D cũng xác định không muốn tiếp tục chung sống với chị L do không còn tình cảm nên anh nhất trí ly hôn. Qua xác minh tại nơi cư trú của chị L và anh D, đại diện chính quyền cũng có ý kiến: quá trình chung sống, anh D và chị L sống không hạnh phúc, vợ chồng có hai con chung, anh D hiện vẫn có hộ khẩu thường trú tại địa phương còn chị L và hai con không sinh sống tại địa phương. Vợ chồng đã sống ly thân còn nguy n nhân mâu thuẫn giữa anh D và chị L như thế nào, từ đâu địa phương không nắm rõ.
Từ những phân tích tr n, Hội đồng xét xử thấy, cần chấp nhận y u cầu khởi kiện của chị L, cho chị L được ly hôn anh D là phù hợp quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Đỗ hắc T, sinh ngày 11-01-2007 và Đỗ hắc T, sinh ngày 28-12-2009. Hiện nay 02 con chung đang ở cùng chị L, từ khi vợ chồng sống ly thân, anh D không quan tâm đến con và cũng không cấp dưỡng gì cho con. hi ly hôn, chị L có nguyện vọng tiếp tục nhận nuôi 02 con chung và không y u cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Anh D cũng nhất trí.
Xét điều kiện hoàn cảnh hiện nay và nguyện vọng của hai b n thì thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, hai con chung vẫn do chị L nuôi dưỡng, chăm sóc. Nay ly hôn, chị L đề nghị tiếp tục được nuôi con chung, anh D nhất trí. Vì vậy, cần tiếp tục giao con chung Đỗ hắc T, sinh ngày 11-01-2007 và Đỗ hắc T, sinh ngày 28-12-2009 cho chị L nuôi dưỡng, chăm sóc và không buộc anh D cấp dưỡng nuôi con cho chị L (do chị L không y u cầu) là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị L và anh D đều xác nhận không có, không y u cầu Tòa án giải quyết n n Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Phạm Thị Ngọc L phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Ngọc L và anh Đỗ hắc D.
2. Về con chung: Giao hai con chung là Đỗ hắc T, sinh ngày 11-01-2007 và Đỗ hắc T, sinh ngày 28-12-2009 cho chị L tiếp tục, trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành ni n. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L. Hai b n có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị Phạm Thị Ngọc L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại bi n lai số 0000636 ngày 30-10-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện NT. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguy n đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được ni m yết.
ơi nhận:
| - Đương sự; - TAND tỉnh; - V SND huyện + tỉnh; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã NA; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Hà Trần Xuân Chỉnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thúy Nga THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |