- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Phước T sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu…"
- Căn cứ chính? Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 124/2022/HS-ST Ngày: 21/12/2022 |
HUYỆN TÂN CHÂU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Hiếu Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Bùi Đắc Nghĩa; + Ông Võ Văn Hoa Vinh. - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Quốc Việt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Đức – Kiểm sát viên. Trong ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2022/TLST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 122/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo: Võ Phước T, sinh năm: 1991 tại: tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp A, xã Suối D, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có; Giới tính: Nam; Con ông: Võ Thành Ph, sinh năm 1969 và bà Dương Thị Kim Ch, sinh năm: 1970; Em ruột: Có 01 người; Vợ: Cao Thị Bích Ph, sinh năm 1991 (tại phiên tòa bị cáo trình bày đã ly thân); Con: Có 01 người sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/12/2022 cho đến nay – có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến 2013, Võ Phước T đi làm thợ cơ khí ở khu vực Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh nên có quen biết người tên Nguyễn Thanh Bình (không rõ nhân thân, lai lịch) và biết Bình có làm Giấy phép lái xe giả. Đến khoảng tháng 12/2021, do muốn có giấy phép lái xe ô tô để chạy xe taxi dịch vụ nên T nhờ Bình giới thiệu chỗ làm giấy phép lái xe ô tô hạng B2, thì Bình đồng ý. Khoảng đầu năm 2022,
T cung cấp cho Bình 02 tấm hình 3x4, 01 sổ hộ khẩu (Photo), 01 giấy chứng minh nhân dân (Photo), và số tiền 4.500.000 đồng để Bình làm giấy phép lái xe, đến khoảng tháng 3/2022, Bình điện thoại cho T kêu đến khu vực trường dạy lái xe tại đường Lê Thị Riêng thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh gặp Bình để lấy giấy phép lái xe. Sau đó, T đến gặp Bình và được Bình đưa cho 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số 820226163889, mang tên Võ Phước T nhưng không có hồ sơ dự thi. Sau khi có giấy phép lái xe, T sử dụng để điều khiển xe ô tô biển số 70E-001.52 của chị Nguyễn Thị Kiều Tiên để chạy dịch vụ taxi. Ngày 25/6/2022, T điều khiển xe đến khu vực ấp Tân Tây, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thì vi phạm Luật giao thông đường bộ nên bị lực lượng Cảnh sát giao thông huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh kiểm tra, T sử dụng giấy phép lái xe nêu trên để xuất trình cho lực lượng Cảnh sát giao thông đã bị lập biên bản thu giữ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Võ Phước T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Kết luận giám định số 803/KL-KTHS ngày 14/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 giấy phép lái xe số 820226163889, họ tên Võ Phước T, sinh ngày 01/8/1991 nơi cư trú ấp A, xã Suối D, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/01/2022, là giấy phép lái xe giả. Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: 01 giấy phép lái xe hạng B2, số 820226163889 mang tên Võ Phước T, sinh ngày 01/8/1991 ngụ ấp A, xã Suối D, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/01/2022. Kê biên tài sản: Võ Phước T không có tài sản nên Cơ quan điều tra không tiến hành kê biên. Tại bản Cáo trạng số 117/CT-VKSTC ngày 16-11-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Võ Phước T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên cáo trạng đối với bị cáo và phân tích, đánh giá nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: * Về tội danh: - Bị cáo Võ Phước T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. * Về hình phạt: Căn cứ Khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Võ Phước T từ 06 (Sáu) – 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành. * Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo Võ Phước T không có ý kiến tranh luận và có lời nói sau cùng: Xin hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Võ Phước T thừa nhận hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với người làm chứng, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố cùng các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 18 giờ ngày 25/6/2022, trên đường tỉnh lộ 785, thuộc khu vực ấp Tân Tây, xã Tân Hưng, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, Võ Phước T sử dụng giấy phép lái xe hạng B2 giả, điều khiển xe ô tô biển số 70E-001.52 vi phạm Luật giao thông đường bộ thì bị phát hiện thu giữ. Hành vi nêu trên của bị cáo Võ Phước T đã phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại Khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. [3] Về tính chất vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: [3.1] Bị cáo là người trưởng thành, có trình độ học vấn nhất định nên phải nhận thức hành vi cung cấp thông tin cá nhân của mình để người khác làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức là phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ và còn gây mất trật tự, trị an xã hội. [3.2] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có. [3.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự… những tình tiết giảm nhẹ quy định tại theo quy định Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Võ Phước T không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa và Hội đồng xét xử đối chiếu với các Khoản 1, 2, 3, 4 Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ- HĐTP ngày ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh mà cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ tính
chất răn đe, phòng ngừa tội phạm, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo Võ Phước T là phù hợp. [3.4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ tại Khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự quy định, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Đối với người tên Nguyễn Thanh Bình, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau. Đối với Nguyễn Thị Kiều Tiên có giao xe ô tô biển số 70E-001.52 cho bị cáo Võ Phước T điều khiển chạy taxi dịch vụ nhưng không biết bị cáo Tân sử dụng giấy phép lái xe giả để điều khiển nên không xem xét xử lý. [4] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số 820226163889, mang tên Võ Phước T do Sở Giao thông vận tải tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/01/2022 là vật chứng vụ án, cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án. [5] Án phí: Bị cáo Võ Phước T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. [6] Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 341; Điểm i, s Khoản 1; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Phước T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Thời hạn thử thách là 01 (Một) năm bắt đầu tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21-12-2022). Giao bị cáo Võ Phước T cho Ủy ban nhân dân xã Suối Dây, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Võ Phước T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Võ Phước T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo Võ Phước T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số 820226163889, mang tên Võ Phước T do Sở Giao thông vận tải tỉnh Tây Ninh cấp ngày 20/01/2022 là vật chứng vụ án, cần tiếp tục lưu trữ tại hồ sơ vụ án. 3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Võ Phước T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. 5. Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: - Phòng KTNV. TAT; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Tây Ninh; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - Công an huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; - Cơ quan THA phạt tù; - Chi cục THADS huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh; - UBND xã, thị trấn nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; Trần Trọng Hiếu - Những người tham gia tố tụng; - Hồ sơ; - Lưu./. (Hi) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) |