vanban.org

Bản án 124/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Thúy K.

Chấp nhận cho chị Cao Thị Thúy K được ly hôn với anh Nguyễn H. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BAN AN SO 124 CAO THỊ THÚY K- NGUYỄN H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Thúy K.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 18-8-2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Linh Thị Ngọc Thạch.

Ông Nguyễn Xuân Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diến - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 200/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2022 về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 165/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2022, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Cao Thị Thúy K, sinh năm: 1994 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn H, sinh năm: 1991 (vắng mặt).

ĐKTT: Ấp 3, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.

Nơi ở hiện nay: Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Cao Thị Thúy K trình bày: Chị và anh Nguyễn H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2019, tại UBND xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại Ấp B, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm nên thường xuyên cãi vã, anh H có tình cảm với người phụ nữa khác nên vợ chồng vợ chồng sống thiếu tôn trọng, chia sẻ, cảm thông cho nhau thường xuyên cãi vả nhau. Vợ chồng đã tự hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng không thành. Vợ chồng không sống chung từ tháng 3/2022 cho đến nay. Hiện nay, chị xác định mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn H.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh S, sinh ngày 02/12/2019. Sau khi vợ chồng không sống chung thì cháu S đang sống cùng chị. Tuy nhiên, ngày 26/7/2022 anh H đã đến gặp gia đình chị để thăm con và xin gia đình đưa cháu S đi mua đồ chơi nhưng sau đó anh H giữ cháu S không giao cháu S cho chị nuôi dưỡng. Chị yêu cầu Tòa án giao cháu S cho chị trực tiếp nuôi dưỡng vì cháu S còn quá nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Hiện nay, chị làm công ty, thu nhập hàng tháng khoảng 7.000.000 đồng. Chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.

- Trong quá trình giải quyết vụ án tại các lời khai bị đơn anh Nguyễn H trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày của chị K về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn. Cuộc sống chung của anh chị có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị K thấy anh có nhắn tin tình cảm với người phụ nữ khác. Anh đã giải thích và hứa thay đổi nhưng chị K không chấp nhận và vẫn muốn ly hôn. Vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 3/2022 đến nay. Anh đã chủ động hòa giải với chị K nhưng không thành. Hiện nay, anh không đồng ý ly hôn với chị Kiều, anh đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh S, sinh ngày 02/12/2019. Từ khi vợ chồng không sống chung thì cháu S do chị K nuôi dưỡng. Khi ly hôn, anh không đồng ý giao cháu S cho chị K nuôi dưỡng. Anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu S và không yêu cầu chị K cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh làm lái xe, thu nhập hàng tháng khoảng 9.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản chung nên anh không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cơ bản đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Nguyên đơn chị Cao Thị Thúy K đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn anh Nguyễn H đã chưa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho chị Cao Thị Thúy K ly hôn với anh Nguyễn H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Linh S cho chị Cao Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn H tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung đề nghị không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Chị Cao Thị Thúy K khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn H, yêu cầu nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quy định tại Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bị đơn anh Nguyễn H đang sinh sống và cư trú tại ấp Hòa Bình, xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc theo quy định tại Điều 28, Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Thúy K và anh Nguyễn H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2019 tại Ủy ban nhân dân xã Bảo Hòa, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét yêu cầu của nguyên đơn nhận thấy: Chị Cao Thị Thúy K khai cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh H có tình cảm với người phụ nữa khác nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Anh H cũng thừa nhận cuộc sống chung của anh chị có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị K thấy anh nhắn tin tình cảm với người phụ nữ khác. Anh đã giải thích và hứa thay đổi nhưng chị không chấp nhận. Anh chị đã không còn sống chung từ tháng 3/2022 đến nay, thời gian không chung sống anh đã chủ động hòa giải nhưng không được. Anh không đồng ý ly hôn với chị Kiều.

Từ đó cho thấy, tình trạng hôn nhân của chị K và anh H đã căng thẳng, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chị K được ly hôn với anh H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung:

Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh S, sinh ngày 02/12/2019. Xét thấy, chị K và anh H đều có điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng cháu San. Tuy nhiên, hiện nay cháu S còn nhỏ chưa đủ 36 tháng tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên giao cháu S cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng để cháu có thể phát triển tốt về cả thể chất và tinh thần là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Theo trình bày của chị K và xác nhận của Công an xã Bảo Hòa thì từ ngày 26/7/2022 anh H đã đến gặp gia đình chị để thăm con và xin gia đình đưa cháu S đi mua đồ chơi nhưng sau đó anh H giữ cháu S không giao cháu S cho chị K nuôi dưỡng cho đến nay. Do vậy, cần buộc anh Nguyễn H giao cháu Nguyễn Ngọc Linh S, sinh ngày 02/12/2019 cho chị Cao Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng là cần thiết.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị K tạm thời không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị K và anh H khai không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết

Về nợ chung: Chị K và anh H đều xác định không có nợ chung nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị K phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

Về ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Thúy K.

1. Chấp nhận cho chị Cao Thị Thúy K được ly hôn với anh Nguyễn H.

2. Về con chung:

Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Linh S, sinh ngày 01/12/2019 cho chị Cao Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Ngọc Linh S đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Buộc anh Nguyễn H phải giao cháu Nguyễn Ngọc Linh S, sinh ngày 01/12/2019 cho chị Cao Thị Thúy K trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị Thúy K tạm thời không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn H được quyền thăm nom con chung nhưng không gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Cao Thị Thúy K.

Khi cần thiết, chị Cao Thị Thúy K và anh Nguyễn H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung vẫn được pháp luật bảo vệ.

3. Về tài sản chung: Các đương sự trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không giải quyết.

4. Về nợ chung: Các đương sự trình bày không có nên không giải quyết.

5. Về án phí: Chị Cao Thị Thúy K phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn. Số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị Cao Thị Thúy K đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc theo biên lai thu số 0006312 ngày 23 tháng 3 năm 2022 được khấu trừ vào án phí. Chị Cao Thị Thúy K đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Chị Cao Thị Thúy K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ