- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Nguyễn Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hồ Quốc Đ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy L ly hôn với anh Hồ Quốc Đ.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2022/HNGĐ-ST Ngày 29-8-2022. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Hoài Yên.
Ông Đào Việt Khái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 387/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1984 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Hồ Quốc Đ, sinh năm 1980 (Có mặt).
Địa chỉ: Khóm S, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 7 năm 2022 và đơn yêu cầu thay đổi nội dung khởi kiện ngày 15 tháng 8 năm 2022, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L trình bày: Vào năm 2012 chị và anh Hồ Quốc Đ kết hôn, đến ngày 01/9/2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh Đ xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, sự chia sẽ quan tâm trong cuộc sống không còn nên chị và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Vì cuộc sống hôn nhân giữa chị với anh Đ không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Quốc Đ. Về con chung, có một người tên là Hồ Quốc K (giới tính nam), sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012, con chung hiện do chị trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bị đơn anh Hồ Quốc Đ trình bày: Về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn, mâu thuẫn, thời gian sống ly thân đúng như chị L đã khai. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị L yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý ly hôn. Con chung, anh chấp nhận giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L ly hôn với anh Đ. Giao một người con chung tên là Hồ Quốc K (giới tính nam), sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012 cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đ không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, buộc chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc chị Nguyễn Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Hồ Quốc Đ là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Hồ Quốc Đ cư trú tại khóm S, thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thùy L vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Nguyễn Thị Thùy L đúng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Hồ Quốc Đ kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Hồ Quốc Đ là hôn nhân hợp pháp. Chị L và anh Đ đều thừa nhận quá trình chung sống giữa chị L và anh Đ đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên hôn nhân không còn hạnh phúc, từ đó chị L và anh Đ đã không hàn gắn, đoàn tụ được và sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, anh Đ cũng đồng ý đối với yêu cầu ly hôn của chị L. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy L ly hôn với anh Hồ Quốc Đ là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, chị L yêu cầu được nuôi một người con chung tên là Hồ Quốc K (giới tính nam), sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012. Anh Đ đồng ý giao con chung cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy, con chung, hiện chị L là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên. Từ đó, giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Chị Nguyễn Thị Thùy L và anh Hồ Quốc Đ xác định tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.
Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Thùy L ly hôn với anh Hồ Quốc Đ.
2. Về con chung, giao chị Nguyễn Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Hồ Quốc K (giới tính nam), sinh ngày 02 tháng 9 năm 2012. Anh Hồ Quốc Đ không cấp dưỡng nuôi con.
Anh Hồ Quốc Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0018081, ngày 15 tháng 7 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên chị Nguyễn Thị Thùy L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |