vanban.org

Bản án 124/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Triệu Thị Sen- Bị đơn anh Hoàng Văn Thơm"
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________
Bản án số:124/2022/HNGĐ-ST
Ngày 29-12-2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L- TỈNH Y

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Duy Đô

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Trương Xuân Vũ;

2- Ông Nguyễn Ngọc Minh.

Thư ký phiên toà: Bà Lương Thuỳ Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện L-tỉnh Y.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y tham gia phiên toà: Bà Diêm Thị Thanh Tuyền- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 232/2022/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2022/QĐXX-ST ngày 01 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Triệu Thị S 37 tuổi

Địa chỉ: Thôn Kh- xã A- huyện L- tỉnh Y, có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nông Đức Trung- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Y, có mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Văn Th 43 tuổi

Địa chỉ: Thôn Kh- xã A- huyện L- tỉnh Y, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 03-10-2022 và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Triệu Thị S trình bày: Chị và anh Hoàng Văn Th kết hôn tháng 12 năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã A- huyện L- tỉnh Y. Sau khi kết hôn những năm đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh Th hay rượu chè, đi làm không đem tiền về, không quan tâm đến vợ con. Mỗi lần đi uống rượu say về lại chửi bới thậm chí đánh chị. Mặc dù gia đình đã khuyên nhủ nhưng anh Th không thay đổi. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2019, hiện tại chị về bên ngoại sinh sống tại huyện Hàm Yên- tỉnh Tuyên Quang. Xác định tình cảm vợ chồng không còn chị đề nghị giải quyết cho ly hôn. Thời gian chung sống vợ chồng có một con chung là Hoàng Thị Trà M sinh ngày 07-11-2016, ly hôn chị để anh Hoàng Văn Th nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án nhân dân huyện L- tỉnh Y đã ra văn bản thông báo và triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Hoàng Văn Th vắng mặt nên Toà án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục pháp luật quy định.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích tình trạng quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng; điều kiện hoàn cảnh của các bên; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị S được ly hôn với anh Th; giao cháu Hoàng Thị Trà M cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị S.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ; bị đơn đã được triệu tập nhưng không có mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên xử cho chị S được ly hôn với anh Th; giao cháu Hoàng Thị Trà M cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho chị Triệu Thị S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa chị Triệu Thị S và anh Hoàng Văn Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; các đương sự có địa chỉ thường trú tại xã A- huyện L- tỉnh Y nên Tòa án nhân dân huyện L thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Mặc dù đã được triệu tập, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh Hoàng Văn Th vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Triệu Thị S và anh Hoàng Văn Th kết hôn năm 2015, việc kết hôn này tuân thủ đúng những quy định của Luật Hôn nhân và gia đình do đó đây là hôn nhân hợp pháp.

Tại điều 19 luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Kết quả xác minh tại địa phương cơ bản phù hợp với lời khai của nguyên đơn cho thấy do nhiều nguyên nhân nên trong những năm qua vợ chồng chị S- anh Th không hạnh phúc, trong đó nguyên nhân chính là do quan điểm, tính cách, lối sống không hợp nhau... Hai người cũng đã có thời gian dài sống ly thân không còn quan tâm đến nhau nữa. Qúa trình giải quyết vụ án chị Triệu Thị S khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và kiên quyết đề nghị giải quyết cho ly hôn. Qua đó cho thấy hôn nhân giữa chị S và anh Th đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị S có căn cứ chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị Triệu Thị S và anh Hoàng Văn Th có một cháu là Hoàng Thị Trà M sinh ngày 07-11-2016. Qúa trình giải quyết vụ án chị S đề nghị để anh Th nuôi con chung.

Xét hoàn cảnh thực tế hiện tại chị S không có việc làm và thu nhập ổn định; cháu Hoàng Thị Trà M thường xuyên ở cùng bố và bà nội, theo kết quả xác minh tại địa phương điều kiện học tập của cháu cũng tương đối thuận lợi. Để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống sinh hoạt, học tập, cần giao cháu M cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Chị S không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền thăm nom con chung.

[4] Về tài sản chung; nợ chung: Chị S không yêu cầu giải quyết.

[5] Về án phí: Do gia đình thuộc hộ nghèo, chị S có đơn đề nghị nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L- tỉnh Y và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Triệu Thị S được ly hôn với anh Hoàng Văn Th.

2- Về con chung: Căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; giao cháu Hoàng Thị Trà M sinh ngày 07-11-2016 cho anh Hoàng Văn Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; chị S không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về án phí: Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 điều 12; khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; chị Triệu thị S được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho chị Triệu Thị S 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L- tỉnh Y theo biên lai số AA/2021/0002457 ngày 03-10-2022.

.4- Quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; chị Triệu Thị S có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Hoàng Văn Th có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ