- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Trúc L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 124/2022/HNGĐ-ST Ngày: 12 – 4 – 2022 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thiện Hoàn;
2. Ông Võ Hoàng Nghiệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Đỗ Ngọc Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 81/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 2 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 136/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Trúc L, sinh năm 1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 07, ấp TP, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ 01, ấp TK, thị trấn LB, huyện AP, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1983; cư trú: Tổ 07, ấp TP, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang.
Người làm chứng: Bà Lê Trúc P, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 07, ấp TK, thị trấn LB, huyện AP, tỉnh An Giang.
Bà L vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không rõ lý do, bà P có yêu cầu được vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 15/02/2022 của bà Lê Trúc L; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông T tự tìm hiểu yêu thương nhau và được gia đình cho tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang (theo bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quyển số I/2006 ngày 21/6/2006).
Sau khi kết hôn hai người cùng chung sống tại nhà ông T. Đến năm 2008 thì ra ở riêng. Thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T ham chơi, thường xuyên cờ bạc gây nợ nần, bà khuyên ngăn nhưng không được. Từ đó làm mất hạnh phúc vợ chồng. Bà và ông T ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Sau đó ông T có ý muốn hàn gắn vợ chồng nhưng bà không chấp nhận. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Quá trình chung sống, bà L và ông T sinh được 02 con chung: Trần Hữu L, sinh ngày 25/8/2007 và Trần Hữu H, sinh ngày 30/7/2014. Hiện con chung đang sinh sống cùng bà L. Khi ly hôn bà L yêu cầu nuôi hai con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Tại biên bản ghi nhận lời khai ngày 24/3/2022, bị đơn ông Trần Văn T trình bày nội dung như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà L tự tìm hiểu tiến đến hôn nhân vào năm 2006, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang.
Sau khi kết hôn hai người cùng chung sống tại nhà ông. Đến năm 2008 thì hai người ra ở riêng. Cuộc sống chung diễn ra bình thường. Việc bà L trình bày thời điểm năm 2015 ông cờ bạc để nợ nần là có, nhưng sau này ông T đã sửa đổi và sống với nhau bình thường. Đến tháng 04/2021, ông T và bà L ly thân do ông T bị bệnh không gần gũi vợ con được. Theo ông T thì vợ chồng không có gi mâu thuẫn trầm trọng, bản thân vẫn còn tình cảm với vợ con nên ông không đồng ý ly hôn với bà L. Ngoài ra, ông T cho biết bản thân không có định hướng gì để vợ chồng sống với nhau hạnh phúc, yêu cầu Tòa án cho thời hạn 15 ngày để động viên, hàn gắn bà L đoàn tụ, rút lại yêu cầu khởi kiện. Nếu sau 15 ngày kể từ ngày trình bày ý kiến, bà L không rút lại yêu cầu khởi kiện thì ông T đồng ý ly hôn bà L.
Về con chung: Quá trình chung sống, sinh được 02 con chung: Trần Hữu L, sinh ngày 25/8/2007 và Trần Hữu H, sinh ngày 30/7/2014. Hiện hai con chung đang sinh sống cùng bà L. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L thì ông đồng ý giao hai con cho bà L nuôi, ông không cấp dưỡng nuôi con do không có công việc ổn định, thu nhập bấp bênh.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập ông T để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 04/3/2022 nhưng ông T vắng mặt không rõ lý do.
Ngày 04/3/2022, bà L có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận công việc làm ăn xa không về được.
- Về tài liệu, chứng cứ:
Tài liệu, chứng cứ do bà L giao nộp: Bản tự khai ngày 15/02/2022; bản sao Giấy chứng nhận kết hôn số 40 ngày 21/6/2016 của Ủy ban nhân dân xã Quốc Thái, huyện AP, tỉnh An Giang; bản sao 02 (hai) Giấy khai sinh mang tên Trần hữu H và Trần Hữu L; bản sao Sổ hộ khẩu gia đình mang tên Trần Văn T; bản sao Giấy căn cước công dân mang tên Lê Trúc L.
Tài liệu, chứng cứ do ông T giao nộp: Bản photo Căn cước công dân mang tên Trần Văn T.
Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Biên bản lấy lởi khai người làm chứng bà Lê Trúc P ngày 04/3/2022; biên bản ghi nhận ý kiến 02 (hai) con chung; biên bản xác minh ngày 02/3/2022 tại Công an xã KA, huyện AP; biên bản lấy lời khai ông Trần Văn T ngày 24/3/2022.
Tại phiên tòa, do bà L và ông T cùng vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của bà L và ông T, biên bản xác minh ngày 02/3/2022 tại Công an xã Quốc Thái, huyện AP và biên bản lời khai người làm chứng bà Lê Trúc P;
- Theo biên bản lời khai người làm chứng bà Lê Trúc P cho biết: Bà là em ruột của bà Lê Trúc L. Hôn nhân giữa bà L và ông T là do tự tìm hiểu nhau và có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới một thời gian sau thì hai người thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T thiếu trách nhiệm với gia đình, thường xuyên cờ bạc gây nợ. Hai người sống ly thân nhau từ năm 2020 đến nay, không hàn gắn tình cảm. Về con chung: Có 02 con chung hiện đang sống với bà L. Về tài sản chung, nợ chung: Không rõ.
Do bận công việc làm ăn nên bà P yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện AP:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông T vắng mặt lần thứ hai không lý do; bà L có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng bà P đã có lời khai tại Tòa án và có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 207, Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Theo trình bày của bà L và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng ly thân nhau từ năm 2020, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và giao hai con chung cho bà L tiếp tục nuôi dạy theo nguyện vọng của hai cháu, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung và nợ chung, đương sự thống nhất tự thỏa thuận nên không xem xét, giải quyết.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn ông Trần Văn T đều vắng mặt không lý do; đồng thời, ông T đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, ông T đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn bà Lê Trúc L có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt; người làm chứng bà Lê Trúc P có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228, Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thẩm quyền giải quyết:
Hôn nhân giữa bà Lê Trúc L và ông Trần Văn T hình thành do tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2006, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang. Ông T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Tổ 07, ấp TP, xã KA, huyện AP, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện AP, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Bà L cho rằng, quá trình chung sống, thời gian đầu chung sống với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bà L và ông T bất đồng quan điểm sống, ông T ham chơi, thường xuyên cờ bạc gây nợ nần, bà khuyên ngăn nhưng không được. Từ đó làm mất hạnh phúc vợ chồng. Bà L và ông T ly thân nhau từ năm 2020 đến nay. Sau đó ông T có ý muốn hàn gắn vợ chồng nhưng bà không chấp nhận. Do cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà L yêu cầu được ly hôn với ông T. Những mâu thuẫn mà bà L trình bày được bà Lê Trúc P là em ruột của bà L xác nhận trong biên bản ghi nhận lời khai người làm chứng tại Tòa án.
Ông Trần Văn T xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn gia đình nhưng không đáng kể, những khuyết điểm của bản thân mà bà L trình bày là có nhưng hiện nay ông T đã sửa đổi, vợ chồng sống ly thân là do ông T bị bệnh và thời điểm ly thân là từ tháng 04/2021 cho đến nay. Ông T yêu cầu Tòa án tạo điều kiện để ông T động viên, hàn gắn tình cảm với bà L trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày 24/3/2022, nếu sau 15 ngày bà L không rút lại đơn khởi kiện thì ông T đồng ý ly hôn với bà L.
Nam nữ khi tiến đến hôn nhân đều hướng đến mục đích là xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững nhưng giữa bà L và ông T lại tồn tại những mâu thuẫn không thể hàn gắn dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Việc bà L và ông T bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau cũng như việc cả hai đã sống ly thân từ lâu, không hàn gắn tình cảm mặc dù đã được gia đình hòa giải, động viên đã cho thấy sự vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Bản thân ông T trình bày không đồng ý ly hôn bà L nhưng cũng không đưa ra được phương hướng, cách thức để vợ chồng có thể đoàn tụ và chung sống hạnh phúc. Từ những phân tích nêu trên, có thế nhận thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung:
Sau khi xem xét điều kiện nuôi con của bà L, nguyện vọng của con chung cũng như sự tự nguyện của ông T giao hai con chung cho bà L nuôi . Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quyết định để bà L được trực tiếp nuôi dạy con chung tên: Trần Hữu L, sinh ngày 25/8/2007 và Trần Hữu H, sinh ngày 30/7/2014.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho bà L về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng bà L vẫn giữ nguyên ý kiến của mình. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của bà L trong việc không cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Ông T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà L. Ngược lại, bà L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Vàng trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của pháp luật bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, tuy nhiên bà L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử công nhận tự nguyện của bà L là không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L và ông T thống nhất tự thỏa thuận, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:
Bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
Về quyền kháng cáo: Bà L và ông T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các điều 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Trúc L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Trúc L được ly hôn với ông Trần Văn T.
2. Về con chung: Bà Lê Trúc L được trực tiếp nuôi dạy hai con chung tên: Trần Hữu L, sinh ngày 25/8/2007 và Trần Hữu H, sinh ngày 30/7/2014. Ông Trần Văn T không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Ông Trần Văn T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của bà Lê Trúc L. Ngược lại, bà Lê Trúc L cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở ông Trần Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Bà Lê Trúc L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006797 ngày 15/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện AP, tỉnh An Giang.
Ông Trần Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự không phải chịu các chi phí tố tụng khác.
4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt bà Lê Trúc L và ông Trần Văn T. Bà L và ông T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5. Giấy chứng nhận kết hôn số 40, quyển số I/2006 ngày 21/6/2006 của Ủy ban nhân dân xã QT, huyện AP, tỉnh An Giang cấp cho ông Trần Văn T và bà Lê Trúc L không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang; - VKSND tỉnh An Giang; - VKSND huyện AP; - THADS huyện AP; - UBND xã QT; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuân |