vanban.org

Bản án 124/2021/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Ngô Quyền, TP. Hải Phòng Tuyên án 10/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Dương Thị T p…

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Dương Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "T - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Dương Thị T p…
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NGÔ QUYỀN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2021/HS-ST
Ngày 10-8-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lý Thị Thiên Nga

Bà Hà Thị Mão

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 102/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:

Dương Thị T, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1994 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn K, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn L và bà Nguyễn Thị N; có chồng là Nguyễn Văn L (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án: Không, tiền sự: Tháng 5/2020, Công an xã Th, huyện A, thành phố Hải Phòng xử lý vi phạm hành chính đối với Dương Thị T về hành vi Trộm cắp tài sản; bị bắt tạm giữ từ ngày 22/02/2021, đến ngày 24/02/2021 thay đổi biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2021; có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Bùi Thị Thuỳ Nh, sinh năm 1983; nơi cư trú: Số 5/9/37 N 1, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2. Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số 9 lô 88 đường D, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 08/9/2020, Nguyễn Ngọc C, sinh 1991; nơi cư trú: Số 57D3 phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng điều khiển xe mô tô Exciter, BKS 37H1- 349.26 chở Dương Thị T và cháu Nguyễn Thị N, sinh 2019 đi mua mướp đắng trên đường A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng. Khi đến số 22 đường A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, T nhìn thấy chị Bùi Thị Thuỳ Nh, sinh 1983; nơi cư trú: Số 05/9/37 N 1, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng dựng xe mô tô Nouvo, BKS 15B1- 32387 để mua hoa quả, chị Nh để 01 chiếc điện thoại di động Oppo F11 Pro màu xanh ở hốc xe để đồ phía tay lái trái. T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc điện thoại di động trên để lấy tiền ăn tiêu. Khi xe đi đến gần sát chị Nh, lợi dụng lúc chị Nh chọn hoa quả không để ý, T dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại trên. Cùng lúc đó, chị Nh quay lại thì phát hiện T lấy chiếc điện thoại liền đuổi theo hô “Cướp, cướp”. T vỗ vai C và bảo phóng xe nhanh lên nhưng ngay lúc đó C và T đã bị các đồng chí Công an phường L và quần chúng nhân dân đuổi theo bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại di động Oppo F11 Pro màu xanh; 01 xe mô tô Exciter BKS 37H1- 349.26

Kết luận định giá số 46/KL-ĐG ngày 23/9/2020 của Hội đồng định giá Uỷ ban nhân dân quận Ngô Quyền kết luận: 01 điện thoại di động Oppo F11 Pro màu xanh đến thời điểm bị xâm hại có giá 3.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Dương Thị T bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền đã ra quyết định truy nã đối với T.

Trong thời gian bỏ trốn T gặp C, đến khoảng 15 giờ 00 phút ngày 22/02/2021, C điều khiển xe mô tô Air Blade, không rõ biển kiểm soát chở T và cháu N đi trên tuyến đường C, quận L, thành phố Hải Phòng để tìm xem ai sơ hở thì trộm cắp tài sản để kiếm tiền tiêu xài. Khi đến đầu ngõ 440 đường C, quận L, thành phố Hải Phòng T phát hiện trên bàn máy xay nước mía của quán bán nước đầu ngõ, chị Đỗ Thị T, sinh 1982; nơi cư trú: Số 9 lô 88 đường D, quận L, thành phố Hải Phòng để 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus đang cắm dây sạc. T bảo C quay xe dừng lại trước quán nước. Quan sát thấy không có ai, T bế cháu N bằng tay trái xuống xe đi về phía máy xay nước mía, dùng tay phải rút dây sạc điện thoại rồi cầm lấy điện thoại ngồi lên xe của C. Đúng lúc này, chị Đỗ Thị T ở trong quán phát hiện liền chạy ra túm áo T kéo lại, T bị ngã xuống đất làm văng chiếc điện thoại vừa lấy được ra đất. Cương thấy vậy phóng xe bỏ chạy. Chị Đỗ Thị T đã đưa Dương Thị T đến Công an phường D, quận L trình báo.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng .

Kết luận định giá số 29/KL-ĐG ngày 02/3/2021 của Hội đồng định giá Uỷ ban nhân dân quận L kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng đến thời điểm bị xâm hại có giá 4.200.000 đồng.

Về dân sự và vật chứng vụ án:

- 01 xe mô tô Exciter BKS 37H1 34926 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau.

- 01 điện thoại di động Oppo F11 Pro màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng, Cơ quan Công an đã ra quyết định trả lại tài sản trên cho người bị hại chị Bùi Thị Thuỳ Nh và chị Đỗ Thị T, chị Nh và chị T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Dương Thị T phải bồi thường.

Đối với Nguyễn Ngọc C, trong lần D Thị T trộm cắp chiếc điện thoại Iphone 7 Plus ở C, T khai nhận C và T có bàn bạc với nhau về việc đi trên đường thấy ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, C vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa triệu tập được C để lấy lời khai. Ngày 22/5/2021 Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền quyết định tách vụ án tiếp tục điều tra, có căn cứ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKSNQ ngày 09 tháng 6 năm 2021, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố Dương Thị T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Ngày 24/6/2021, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 112/2021/QĐXXST-HS, xét xử vụ án vào hồi 08 giờ 00 phút ngày 09/7/2021. Tuy nhiên Tòa án không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho bị cáo Dương Thị T văn bản tố tụng Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Theo địa phương cung cấp, từ ngày 12/6/2021 bị cáo Dương Thị T bỏ trốn không có mặt nơi cư trú thôn K, xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng. Ngày 09/7/2021 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền ra Văn bản yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Ngô Quyền ra lệnh truy nã đối với bị cáo Dương Thị T. Ngày 30/7/2021 Công an quận Ngô Quyền bắt bị cáo T theo lệnh truy nã. Cùng ngày, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã ra Quyết định bắt, tạm giam đối với bị cáo Dương Thị T.

Tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị T khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xử mức án thấp nhất.

Kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Thị T về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự tuyên phạt: Bị cáo Dương Thị T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo T. Về án phí: Bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

Cơ quan điều tra Công an quận Ngô Quyền, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Dương Thị T không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về chứng cứ xác định bị cáo có tội:

Bị cáo Dương Thị T khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 08/9/2020 tại số 22 đường A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng, Dương Thị T đã lén lút chiến đoạt tài sản là 01 chiếc điện thoại di động Oppo F11 Pro màu xanh của chị Bùi Thị Thuỳ Nh có giá 3.500.000 đồng và khoảng 15 giờ ngày 22/02/2021 tại đầu ngõ 440 đường C, phường D, quận L, thành phố Hải Phòng, Dương Thị T đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 điện thoại di động Iphone 7 Plus màu hồng của chị Đỗ Thị Thu có giá 4.200.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo T tại phiên tòa và phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Dương Thị T phạm tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo T.

- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Dương Thị T trộm cắp tài sản hai lần vào ngày 08/9/2020 và ngày 22/02/2021 nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô Exciter BKS 37H1-34926 quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp, Cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại chị Bùi Thị Thuỳ Nh và chị Đỗ Thị T đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bị cáo Dương Thị T bồi thường và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết

- Về án phí:

Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Dương Thị T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2021, trừ cho bị cáo 02 (hai) ngày tạm giữ trước đó từ ngày 22/02/2021 đến ngày 24/02/2021.

- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc: Bị cáo Dương Thị T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo Dương Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại chị Bùi Thị Thuỳ Nh và chị Đỗ Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị hại;

- VKSND quận Ngô Quyền;

- Công an quận Ngô Quyền;

- Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền;

- VKSND thành phố Hải Phòng;

- Trại tạm giam thành phố Hải Phòng;

- PV 06 Công an thành phố Hải Phòng;

- Cơ quan THA hình sự Công an quận

Nguyễn Thị Hoài Ngô Quyền;

- Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;

- TAND thành phố Hải Phòng;

- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ