- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th và kháng cáo người bị hại anh Lê Phú L, sửa Bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2021/HS-PT Ngày 17/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Trọng Danh
Ông Trần Minh Long
- Thư ký phiên toà: Bà Lại Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lương Hồng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2021/TLPT-HS ngày 05 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
1. Đoàn Minh Hi - sinh ngày 10/10/1979 tại Đà Nẵng. Nơi ĐKHKTT: Tổ 12 phường V, quận T, thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ 68 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đoàn Mộng L và bà Nguyễn Thị Mi (đều còn sống); Có vợ là Hoàng Thị Hằ và có 03 con (con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2018). Tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân: Ngày 18/02/1998 bị TAND thành phố Đà Nẵn xử phạt 4 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” và tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 15/HSPT (đã được xóa án tích).
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Hoàng Việt Th - sinh ngày 08/11/1982 tại Quảng Bình. Nơi ĐKHKTT: Thôn 07 thị trấn H, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Tổ 68 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đức Vi và bà Trần Thị Anh Khi (đều còn sống); Có vợ là Thái Thị Uyên Kh (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại có kháng cáo: Anh Lê Phú L, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Tổ 68 phường H, quận L, TP. Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/10/2020, Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th cùng với Hoàng Văn Dũ và Hoàng Văn Kiê cùng trú tại tổ 68 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng tổ chức ăn uống tại nhà Hi tại tổ 68 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Th nghe tiếng nhạc karaoke ồn ào từ phía nhà anh Lê Văn Dũ vọng sang, bực tức vì việc gia đình anh Dũ thường xuyên mở nhạc karaoke gây ồn ào nên Thà sang nhà anh Dũ dùng một cục đá ném lên mái tôn nhà anh Dũ, gia đình anh Dũ đi ra nói chuyện thì giữa Th và gia đình anh Dũ xảy ra mâu thuẫn. Lúc này Lê Phú L chạy vào nhà cầm 01 con dao dài khoảng 40cm và 01 cái rựa dài khoảng 50 cm chạy ra có lời lẽ thách đố đánh nhau với Th. Thấy vậy, Th bỏ đi về nhà Hi thì L tiếp tục cầm dao, rượt đuổi Th vào tận trong nhà. Thấy vậy, Hi đang dọn dẹp trong nhà chạy ra xô L ra khiến L ngã xuống đất và làm rớt dao, rựa. Th dùng tay đánh vào người L 2 cái. Lúc này anh Lê Văn Dũ cầm một cái xẻng dài 1,5m và chị Phạm Thị Thu Nguy (là vợ Dũ) cầm một cái cuốc xông đến đánh Hi và Th nhằm mục đích giải vây cho L. Anh Dũ cầm xẻng đánh Hi thì Hi nắm được phần lưỡi xẻng rồi giật lấy cây xẻng trên tay anh Dũ đánh một cái về phía thắt lưng anh Dũ thì lúc này L ở dưới đất ngồi dậy nên cán xẻng trúng vào vùng trán của L gây thương tích xây xát da. Thấy Hi giật được xẻng và đánh trả nên anh Dũ và chị Nguy bỏ chạy về nhà. Lúc này, Hi tiếp tục dùng cán xẻng đánh trúng vào người và tay của L gây thương tích. Sau đó, L đứng dậy và đi lùi về phía sau thì bị té ngã, thấy vậy Hi vứt xẻng và cùng Th đi đến tiếp tục cả hai dùng tay đánh trúng vào người và mặt L gây thương tích gãy xương mũi. Sau đó Hi và Th dừng lại không đánh L nữa, L đi về nhà và được gia đình đưa đi bệnh viện điều trị.
* Theo Bản kết luận giám định pháp y số: 267/TgT ngày 08/12/2020 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Đà Nẵng, kết luận ông Lê Phú L bị tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 20%.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 81/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Minh Hi và Hoàng Việt Th phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Về hình phạt: Căn cứ vào đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Đoàn Minh Hi: 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Xử phạt: Hoàng Việt Th: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 29/9/2021, các bị cáo Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th có đơn kháng cáo với nội dung: Án sơ thẩm xử nặng, xin được xem xét theo trình tự phúc thẩm cho các bị cáo được hưởng án treo.
Ngày 04/10/2021, bị hại anh Lê Phú L có đơn kháng cáo với nội dung xin cấp phúc thẩm xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Đoàn Minh Hi và Hoàng Việt Th giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin HĐXX xem xét cho hoàn cảnh gia đình của các bị cáo hiện tại khó khăn, các bị cáo là những người lao động chính trong gia đình, các con còn nhỏ, nên xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để có điều kiện làm ăn lương thiện, lo cho gia đình.
Người bị hại anh Lê Phú L tuy có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, nhưng vẫn giữ nguyên nội ding đơn kháng cáo đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo Hi, Th được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
+ Về thủ tục: Đơn kháng cáo của các bị cáo Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th và kháng cáo của bị hại anh Lê Phú L trong thời hạn kháng cáo, nên đảm bảo hợp lệ.
Người bị hại anh Lê Phú L kháng cáo, tuy có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 292 BLTTHS xét xử vụ án theo luật định.
+ Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội có gây ra thương tích cho anh L với tỷ lệ 20% là do anh L, người nhà anh L, sử dụng hung khí xông vào nhà bị cáo Hi đuổi đánh bị cáo Th và bị cáo Hi làm cho tinh thần các bị cáo bị kích động không kiềm chế bản thân, nên mới có hành vi đánh trả lại anh L gây ra tỷ lệ thương tích nêu trên. Vì vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Hi, Th về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật, về mức hình phạt 01 (một) năm tù đối với bị cáo Hi và 09 (chín) tháng tù đối với bị cáo Th mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo là phù hợp; Tuy nhiên, Tòa án sơ thẩm cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết, vì trong vụ án này nguyên nhân chính dẫn đến việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do người bị hại anh L và người nhà anh L dùng hung khí rượt đuổi bị cáo Th vào tận nhà bị cáo Hi đánh trước, gây kích động về mặt tinh thần cho các bị cáo, sau khi vụ án xảy ra các bị cáo nhận thức được hành vi sai trái nên đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí thuốc men điều trị cho bị hại, quá tình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng thời sau khi xét xử sơ thẩm người bị hại anh L cũng có đơn kháng cáo xin cho các bị cáo được hưởng án treo. Xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rỏ ràng, việc không cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ Luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo người bị hại, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt tù và cho các bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Người bị hại anh Lê Phú L có đơn kháng cáo, nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 BLTTHS, HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
. Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Đoàn Minh Hi và Hoàng Việt Th đều đã khai nhận: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/10/2020 tại tổ 68 phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, xuất phát từ việc gia đình người bị hại thường xuyên hát Karaoke gây ồn ào làm ảnh hưởng đến cuộc sống sinh hoạt cũng như việc học hành của con bị cáo Hi trước đó, nên trong lúc ăn uống thì bị cáo Th nghe tiếng nhạc hát Karaoke ồn ào từ phía nhà ông Dũ (cha bị hại L), nên bị cáo Th đi ra ngoài dùng một cục đá ném lên mái tôn nhà ông Dũ, nên giữa gia đình ông Dũ và bị cáo Th xảy ra mâu thuẩn, dẫn đến việc anh Lê Phú L dùng dao và rựa có lời lẻ thách đánh bị cáo Th. Vì vậy, bị cáo Th bỏ đi vào nhà bị cáo Hi thì anh L tiếp tục cầm hung khí rượt đuổi theo bị cáo Th vào tận nhà bị cáo Hi với mục đích đánh bị cáo Th giải quyết mâu thuẫn, lúc này bị cáo Hi đang dọn dẹp trong nhà nhìn thấy anh L cầm dao rượt đuổi bị cáo Th, để ngăn cản việc anh L đánh bị cáo Th, bị cáo Hi từ trong nhà chạy ra xô anh L bị ngã và làm rớt dao, rựa từ tay anh L, khi anh L ngã thì lúc này vợ chồng ông Dũ, bà Nguy cầm xẳng, cuốc xông vào đánh các bị cáo, bị kích động về tinh thần do hành vi của bên bị hại, nên các bị cáo đã có hành vi dùng cán xẻng bằng cán gỗ dài khoảng 1,5m và tay chân đánh anh Lê Phú L gây thương tích với tỷ lệ 20%. Vì vậy, các bị cáo Hi,Th thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2021/HS-ST ngày 27/9/2021 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, các bị cáo cho rằng mức hình phạt tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt đối với các bị cáo là nghiêm khắc, vì trong vụ việc này bản thân anh L cũng có lỗi khi dùng hung khí xông vào nhà đe dọa tấn công bên các bị cáo trước, làm cho tinh thần của các bị cáo bị kích động mạnh, không kìm chế bản thân dẫn đến hành vi phạm tội, sau khi vụ việc xảy ra, các bị cáo ăn năn, hối cải và tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí thuốc men, điều trị cho anh L và anh L cũng có đơn kháng cáo xin cho các bị cáo được hưởng án treo, hiện tại gia đình các bị cáo khó khăn, đều là những người lao động chính, các con còn nhỏ, nên xin HĐXX cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương để có điều kiện làm ăn lương thiện lo cho cuộc sống gia đình.
. Xét nội dung đơn kháng cáo của các bị cáo và kháng cáo của người bị hại, HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, do đó việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm khởi tố, điều tra, truy tố các bị cáo ra trước pháp luật để xử lý nhằm ren đe, giáo dục riêng các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định pháp luật, qua đó xử phạt bị cáo Đoàn Minh Hi mức án 01 (một) năm tù và bị cáo Hoàng Việt Th 09 (chín) tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt tù cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội là không cần thiết, bởi lẻ, nguyên nhân chính dẫn đến các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại là do anh L có hành vi dùng dao, rựa có lời lẻ thách thức đánh bị cáo Th trước, mặc dù, bị cáo Th đã sợ bỏ đi về nhà bị cáo Hi, nhưng anh L vẫn tiếp tục cầm hung khí dao, rựa rượt, đuổi theo bị cáo Th vào tận trong nhà bị cáo Hi với mục đích tấn công bị cáo Th, thấy vậy, bị cáo Hi chạy ra ngăn cản hành vi của anh L làm rớt con dao và rựa, sau đó người nhà của anh L ông Dũ, bà Nguyệt tiếp tục cầm xẳng, cuốc xông vào đánh các bị cáo Hi và Th làm cho các bị cáo bị kích động về tinh thần, không kìm chế bản thân dẫn đến việc phạm tội là do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra. Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, nên đã tự nguyện bồi thường toàn bộ chi phí thuốc men, điều trị thương tích cho anh L, anh L có đơn bãi nại, quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo Th chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo Hi tuy có án tích nhưng đã được xóa án tích trên 10 năm, coi như chưa bị kết án. Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm, bị hại anh L tiếp tục có đơn kháng cáo xin cấp phúc xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo, hiện tại hoàn cảnh gia đình các bị cáo thuộc diện khó khăn, các con còn nhỏ, các bị cáo đều là những người lao động chính trong gia đình, có việc làm ổn định. Xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi cư trú cụ thể, rỏ ràng, việc không cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội cũng không ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm, các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo tinh thần Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội mà nghĩ nên mở cho các bị cáo một con đường cải tạo tại địa phương cũng có tác dục giáo dục riêng các bị cáo, nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo làm ăn lương thiện chăm lo cho cuộc sống gia đình là nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù và cho các bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 BLHS như đề nghị của đại diện VKS nhân dân thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa là phù hợp.
. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
. Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th và kháng cáo người bị hại anh Lê Phú L, sửa Bản án sơ thẩm giữ nguyên mức hình phạt tù, nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo.
2. Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, e, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Minh Hi: 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 17/12/2021.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Việt Th: 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là: 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 17/12/2021.
Tuyên: Giao các bị cáo Đoàn Minh Hi và Hoàng Việt Th về UBND phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Các bị cáo Đoàn Minh Hi, Hoàng Việt Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Đà Nẵng; - Vụ giám đốc kiểm tra 1; - VKSND quận Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - PV27; PC81 Công an thành phố; - TAND quận Liên Chiểu; - THA DS quận Liên Chiểu; - Sở Tư pháp TP. Đà Nẵng; - Bị cáo; - Lưu: HS; HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Vĩnh Chuyển |