- Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "Lê Thị C - Lê Thị N"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 177/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C. Cụ thể tuyên:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2021/DS-PT Ngày 10-5-2021 V/v tranh chấp về thừa kế tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hương
Các Thẩm phán:
Bà Hồ Thị Thanh Thúy
Ông Phạm Văn Ngọt
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng Tường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 312/2020/TLPT-DS ngày 05/11/2020 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 177/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 246/2020/QĐ-PT ngày 11/11/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1969
Địa chỉ: ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đinh Thị Bé M, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: 65B7, tổ X, khu phố X, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre
2. Bị đơn:
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1964 (có mặt)
Địa chỉ: 171/10A, khu phố X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre
- Ông Lê Đình N, sinh năm 1965 (có mặt)
- Ông Lê Đình S, sinh năm 1971 (có mặt)
- Ông Lê Đình S1, sinh năm 1974 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1929 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Ông Lê Đình R, sinh năm 1952 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre
- Ông Lê Đình H, sinh năm 1953 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre
- Bà Lê Thị Kim X, sinh năm 1955 (có mặt)
Địa chỉ: 25C, quốc lộ 57, ấp T, xã Thanh Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
- Ông Lê Đình A, sinh năm 1957 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre
- Ông Lê Đình Đ, sinh năm 1961 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre
- Bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1963 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: S11, Đinh Tiên H, phường X, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long
- Bà Đỗ Lệ H, sinh năm 1987 (có yêu cầu xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Lê Thị C trình bày:
Cụ Lê Thị N là vợ sau của cụ Lê Đình T, hai cụ sống chung với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 1963 nhưng không có đăng ký kết hôn. Cụ T chết ngày 28/12/2013. Cụ N chết ngày 19/4/2018. Cụ N và cụ T có 06 người con chung là: bà Lê Thị N, ông Lê Đình N, bà Lê Thị C, ông Lê Đình S, ông Lê Đình S1 và bà Lê Thị M (chết năm 2006, không có chồng, con).
Khi cụ N chết có để lại tài sản là phần đất diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) thuộc thửa 501, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Trên đất có nhà, các công trình, tài sản, cây trồng như biên bản xem xét thẩm định đã ghi nhận. Phần đất này là của cá nhân cụ N đăng ký kê khai và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ngày 04/12/2017, cụ N lập: “Tờ di chúc thừa kế tài sản đất vườn và thổ cư cho ba người con” được Ủy ban nhân dân xã T chứng thực vào cùng ngày. Nội dung di chúc thể hiện cụ N để lại di sản cho ba người con thừa kế như sau:
Ông Lê Đình S (Kịp) nhận phần đất: Ngang 05m phía Đông giáp huyện lộ 36; Phía Tây dài đến giáp thửa đất số 471; Phía Nam giáp với ông Trần Ngọc A; Phía Bắc giáp với ông Lê Đình S1.
Ông Lê Đình S1 nhận phần đất: Ngang 14,23m ở phía Đông giáp huyện lộ 36; Dài 48,31m nằm ở phía Tây giáp thửa đất số 471; Phía Nam giáp với ông Lê Đình S; Phía Bắc giáp với Lê Thị C. Trên phần đất này có phần đất thổ cư và ngôi nhà tường cấp 4 do cụ N xây dựng vào năm 1999 và các tài sản trong nhà, vật dụng trong nhà giao cho ông S1 quản lý không ai được lấy đi.
Bà Lê Thị C nhận phần đất: Ngang 8m nằm ở phía Đông giáp huyện lộ 36; Dài 48,31m nằm ở phía Tây giáp thửa 471; Phía Nam giáp với ông Lê Đình S1; Phía Bắc giáp với ông Nguyễn Duy H và các tài sản, vật dụng trong nhà để làm kỷ niệm và được giữ lại không ai có quyền lấy đi.
Sau khi cụ N chết, bà C khai nhận di sản thừa kế theo di chúc ngày 04/12/2017 thì bị các anh chị em trong gia đình không đồng ý. Vì các anh chị em của bà cho rằng cụ N đã hủy di chúc ngày 04/12/2017 và lập một di chúc mới đề ngày 17/01/2018 nhưng không có phần của bà C. Bà C không đồng ý với văn bản hủy di chúc ngày 04/12/2017 và di chúc ngày 17/01/2018 của cụ N mà phía bị đơn cung cấp. Vì di chúc này được lập lúc cụ N không minh mẫn, cụ N bị bệnh trầm cảm và các bệnh khác, bà đã cung cấp toa thuốc ngày 15/12/2017 do bệnh viện đa khoa Minh Đức chuẩn đoán để chứng minh. Lúc lập di chúc này cụ N bị ép buộc, chứng cứ chứng minh là do phía anh em trong gia đình nói với cụ N rằng bà C bán đất, bán nhà, mục đích để cụ N ghét bà. Bà bán đất hợp lệ có giấy tờ rõ ràng chứ không như anh em trình bày.
Vì vậy, bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết chia thừa kế theo di chúc ngày 04/12/2017 đối với thửa đất 501, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Bà yêu cầu nhận phần đất có diện tích 386,48m2 thuộc thửa đất nêu trên.
Sau đó, tại biên bản hòa giải ngày 06/6/2019, người đại diện theo ủy quyền của bà thay đổi ý kiến, không yêu cầu chia di sản thừa kế, không yêu cầu nhận đất như trên, mà chỉ yêu cầu được đứng tên chung phần đất này với các anh em còn lại và yêu cầu hủy hai di chúc ngày 04/12/2017 và di chúc ngày 17/01/2018.
Tuy nhiên, hiện nay bà yêu cầu hủy di chúc ngày 17/01/2018 và chia di sản thừa kế theo tờ di chúc thừa kế tài sản đất vườn cho con ngày 04/12/2017. Bà C yêu cầu được nhận phần đất có diện tích theo đo đạc là 358,6m2 thuộc thửa 501, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre, hiện do cụ Lê Thị N đứng tên quyền sử dụng. Phần đất này hiện do ông Lê Đình S quản lý. Trên phần đất bà yêu cầu nhận không có tài sản, không có công trình kiến trúc gì. Ngoài ra, bà không yêu cầu chia nhà, tài sản gì khác trên đất.
Đối với đoạn video mà bị đơn cung cấp bà C xác định hình ảnh âm thanh trong đó là của cụ Lê Thị N. Tuy nhiên, các anh chị em đã cố tình bịa đặt để cho cụ N ghét bà, cụ N chỉ nói bà C quậy quá nhưng không nói rõ lý do bà quậy cụ thể như thế nào. Bà không nghe trong đoạn ghi âm, ghi hình nêu trên cụ N nói rằng lập di chúc để cho 04 người con. Bà N, ông N, ông S chở cụ N đi lập di chúc ngày 17/01/2018, không có mặt ông S1 đi cùng. Đối với giấy khám sức khỏe ngày 17/01/2018 do phía bị đơn cung cấp thì không chính xác bằng giấy toa thuốc khám bệnh của bà đã cung cấp cho Tòa án.
Bà đồng ý với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị N trình bày:
Bà không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà Lê Thị C vì di chúc ngày 04/12/2017 đã bị cụ N hủy bỏ thể hiện tại văn bản hủy bỏ di chúc ngày 11/01/2018 có chứng thực của UBND xã T. Cụ N đã lập một di chúc mới ngày 17/01/2018, nội dung di chúc: Các con Lê Thị N, Lê Đình N, Lê Đình S, Lê Đình S1 được sử dụng thửa đất số 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cùng căn nhà và toàn bộ đồ đạc, vật dụng trong nhà để ở và thờ cúng ông bà, tổ tiên; không được quyền chuyển nhượng, sang bán. Di chúc này được lập đúng quy định của pháp luật, được công chứng tại Văn phòng công chứng Phan Đức Toàn và cụ N có đi khám sức khỏe tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu thể hiện cụ N hoàn toàn minh mẫn tỉnh táo. Theo di chúc của cụ N thì thửa đất 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cùng căn nhà và toàn bộ đồ đạc, vật dụng trong nhà để ở và thờ cúng ông bà, tổ tiên nên bà không có yêu cầu chia.
Bà đồng ý với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Đình N trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà Lê Thị C vì cụ N đã có di chúc ngày 17/01/2018, nội dung di chúc: Các con Lê Thị N, Lê Đình N, Lê Đình S, Lê Đình S1 được sử dụng thửa đất số 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cùng căn nhà và toàn bộ đồ đạc, vật dụng trong nhà để ở và thờ cúng ông bà, tổ tiên; không được quyền chuyển nhượng, sang bán. Lúc lập di chúc này, cụ N có đi khám sức khỏe tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, đã cung cấp bản sao chụp cho Tòa án. Do phần đất này để lại thờ cúng nên ông không có yêu cầu chia.
Lý do cụ N không cho bà C đứng tên trong di chúc sau (di chúc ngày 17/01/2018) là do: Bà C nhiều lần mượn tiền của cụ N mà không trả. Bà C lấy đất của cụ N bán cho người khác mà không cho cụ N biết và ngụy tạo việc cho mướn đất. Di chúc ngày 04/12/2017, thì cụ N chỉ cho bà C phần đất có chiều ngang 05m nhưng khi làm giấy tờ thì bà C lại làm chiều ngang 08m, nên cụ N thấy bà C không tốt vì vậy đã làm di chúc lại và không cho bà C đứng tên trong di chúc nữa.
Ông đồng ý với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Theo bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn ông Lê Đình S trình bày:
Ông không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà Lê Thị C vì cụ N đã có di chúc ngày 17/01/2018, nội dung di chúc: Các con Lê Thị N, Lê Đình N, Lê Đình S, Lê Đình S1 được sử dụng thửa đất số 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre cùng căn nhà và toàn bộ đồ đạc, vật dụng trong nhà để ở và thờ cúng ông bà, tổ tiên; không được quyền chuyển nhượng, sang bán nên ông không có yêu cầu chia.
Ông đồng ý với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Lê Đình S1 trình bày:
Phần đất thửa đất số 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre mà bà C tranh chấp là để đứng tên chung theo di chúc ngày 17/01/2018 của cụ N, được dùng để lại thờ cúng, làm thổ mộ cho dòng họ, gia đình, nếu ai có hữu sự thì đem về đó chôn cất, không ai được quyền mua bán chuyển nhượng nên ông không có yêu cầu chia và cũng không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà C.
Ông đồng ý với kết quả xem xét thẩm định, đo đạc và định giá tài sản, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Theo các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Cụ Gtrình bày:
Cụ G là vợ chính thức của cụ Lê Đình T, Cụ G và cụ T cưới nhau khoảng năm 1948 và có với nhau 6 người con chung là ông Lê Đình R, ông Lê Đình H, bà Lê Thị Kim X, ông Lê Đình A, ông Lê Đình Đ, bà Lê Thị Kim H. Đến khoảng năm 1960 thì cụ T có vợ bé là bà Lê Thị N. Cụ và cụ T vẫn là vợ chồng hợp pháp đến cuối đời chứ không có ly hôn. Trong vụ án này lúc đầu Cụ G có ý kiến đề nghị chia cho cụ một phần di sản thừa kế của cụ T, tuy nhiên sau đó Cụ G rút yêu cầu và không có yêu cầu gì khác trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị Kim X trình bày: Bà không có yêu cầu gì trong vụ án này, bà cung cấp thêm thông tin là cụ T còn có một người con tên Đỗ Lệ H, con của cụ T với cụ Đỗ Thị T1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Đình R, ông Lê Đình H, bà Lê Thị Kim H, ông Lê Đình A, ông Lê Đình Đ, bà Đỗ Lệ H vắng mặt tại phiên tòa và đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, không có yêu cầu gì trong vụ án này.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện C đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 177/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C đối với bà Lê Thị N, ông Lê Đình S, ông Lê Đình S1, ông Lê Đình N về việc yêu cầu hủy bỏ di chúc ngày 17/01/2018 và yêu cầu chia thừa kế theo di chúc ngày 04/12/2017 đối với phần đất thuộc thửa 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre do cụ Lê Thị N đứng tên quyền sử dụng đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 02/10/2020, nguyên đơn bà Lê Thị C kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn cho rằng phần đất định đoạt theo di chúc ngày 17/01/2018 có một phần đất của nguyên đơn được cụ N cho vào năm 2003, sự việc này có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã vào ngày 05/11/2003. Theo xác nhận thì cụ N cho nguyên đơn diện tích đất 1600m2 nhưng thực tế nguyên đơn chỉ sử dụng khoảng 1200m2, phần còn lại cụ N vẫn quản lí và định đoạt trong di chúc. Do đó, nhằm đảm bảo quyền lợi của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện C giải quyết lại để làm rõ diện tích đất còn lại của nguyên đơn theo giấy xác nhận ngày 05/11/2003.
Các bị đơn không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 177/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị C, Hội đồng xét xử nhận định:
Về nội dung: Nguyên đơn bà Lê Thị C yêu cầu hủy di chúc ngày 17/01/2018 và chia di sản thừa kế theo tờ di chúc thừa kế tài sản đất vườn cho con ngày 04/12/2017. Các bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng di chúc ngày 17/01/2018 của cụ N là hợp pháp.
Xét di chúc ngày 04/12/2017: Di chúc này được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T ngày 04/12/2017. Đến ngày 11/01/2018, cụ N lập văn bản hủy bỏ di chúc trên, văn bản này được chứng thực tại Uỷ ban nhân dân xã T. Bà C cho rằng việc cụ N hủy bỏ di chúc trên là do bị lừa dối, ép buộc nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của bà. Tại biên bản xác minh ngày 24/4/2020, Uỷ ban nhân dân xã T xác định ngày 11/01/2018, cụ N có đến Uỷ ban nhân dân xã T để hủy di chúc, lúc này sức khỏe cụ N tốt, tinh thần minh mẫn, nội dung văn bản hủy di chúc phù hợp với ý chí của cụ N, cụ tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối. Do vậy, cấp sơ thẩm nhận định di chúc lập ngày 04/12/2017 đã bị cụ N hủy bỏ nên di chúc này không có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.
Xét di chúc ngày 17/01/2018, nhận thấy:
Ngày 17/01/2018, cụ N lập di chúc với nội dung: để lại thửa đất 501, nhà và các đồ đạc, vật dụng trong nhà cho 4 người con là bà Lê Thị N, ông Lê Đình N, ông Lê Đình S và ông Lê Đình S1 để thờ cúng ông bà, tổ tiên, 4 người con trên được sử dụng đất, nhà và các đồ đạc, vật dụng trong nhà để ở và thờ cúng ông bà, tổ tiên, không được quyền chuyển nhượng, sang bán. Bà C cho rằng cụ N lập di chúc này trong lúc không còn minh mẫn, tỉnh táo vì theo toa thuốc ngày 15/12/2017 của Bệnh viện đa khoa Minh Đức chuẩn đoán cụ N bị rối loạn giấc ngủ, giai đoạn trầm cảm không xác định, viêm phế quản cấp, bệnh trào ngược dạ dày, thực quản, các viêm khớp khác. Tuy nhiên, theo chứng cứ mà bị đơn cung cấp thì tại giấy khám sức khỏe ngày 09/01/2018, Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu đã kết luận hiện cụ Lê Thị N sinh năm 1932 thần kinh chưa phát hiện bệnh lý, tinh thần minh mẫn. Bà C cho rằng giấy khám sức khỏe không chính xác bằng toa thuốc nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Mặc khác, di chúc ngày 17/01/2018 được công chứng tại Văn phòng công chứng Phan Đức Toàn huyện M, tỉnh Bến Tre và có người làm chứng là ông Nguyễn Văn Ngà. Tất cả đều xác định lúc cụ N lập di chúc là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai lừa dối, đe dọa, cưỡng ép. Bên cạnh đó, tại cấp phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị C yêu cầu giám định chữ ký của cụ N trong bản di chúc trên và yêu cầu Tòa án thu thập các tài liệu được lưu trữ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C làm cơ sở giám định. Theo kết luận giám định số 159/2021/GĐTL ngày 14/4/2021 thì chữ ký mang tên Lê Thị N trên di chúc lập ngày 17/01/2018 so với chữ ký của cụ Lê Thị N trên các tài liệu mẫu do cùng một người ký ra. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu hủy di chúc ngày 17/01/2018 là có căn cứ.
Theo di chúc ngày 17/01/2018 thì phần đất thuộc thửa 501, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre được cụ N để lại cho ông S1, ông S, bà N và ông N đứng tên chung cùng quản lý, sử dụng để dùng vào việc thờ cúng ông bà, tổ tiên nên các ông bà không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của bà C là có cơ sở.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị C.
Các phần khác của bản án không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: 1.200.000 đồng, bà Lê Thị C có nghĩa vụ nộp và đã nộp xong.
Về án phí phúc thẩm:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì người kháng cáo bà Lê Thị C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị C. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 177/2020/DS-ST ngày 22/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện C. Cụ thể tuyên:
Căn cứ các Điều 609, 611, 624, 630, 643 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C đối với bà Lê Thị N, ông Lê Đình S, ông Lê Đình S1, ông Lê Đình N về việc yêu cầu hủy bỏ di chúc ngày 17/01/2018 và yêu cầu chia thừa kế theo di chúc ngày 04/12/2017 đối với phần đất thuộc thửa 501, tờ bản đồ số 16, diện tích 1.383,5m2 (đo đạc thực tế 1372.8m2) tọa lạc tại ấp Tân T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre do cụ Lê Thị N đứng tên quyền sử dụng đất.
2. Về chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm: Bà Lê Thị C phải chịu là 4.200.000 (Bốn triệu hai trăm nghìn) đồng và đã nộp xong.
3. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 996.000 (Chín trăm chín mươi sáu nghìn) đồng theo biên lai thu số 0000704 ngày 02/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Bến Tre. Hoàn trả cho bà Lê Thị C số tiền chênh lệch còn lại là 696.000 (Sáu trăm chín mươi sáu nghìn) đồng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị C phải chịu số tiền là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0001766 ngày 02/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C. Án phí dân sự phúc thẩm bà Lê Thị C đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bến Tre; - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Hương |