- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Minh L, trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh L phạm tội “Trộm c p tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƢỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 124/2020/HSST Ngày: 17-12- 2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƢỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Loan
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Việt Thành
2. Ông Phạm Xuân Đính
-Thư ký phiên toà: Ông H Ph ng Tâm – Th ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông B Đức Trọng – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc xét xử s thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 128/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2020, Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 143/2020/HSST-QĐ ngày 04/12/2020 đối với bị cáo:
NGUYỄN THỊ MINH L, sinh năm1999 tại Bình Ph ớc; N i th ờng trú: Tổ 8, ấp 1, xã M, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: không. Ngày 31/8/2020 bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 31/8/2020 đến ngày 02/11/2020 đ ợc thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam bằng biện pháp cho gia đình bảo lãnh.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:1. Chị Phạm Thị Thúy N, sinh năm 2004; n i c trú: Tổ 4, ấp 4, xã T, huyện B, tỉnh Bình D ng. Chỗ ở: khu phố 3, thị trấn Ch n Thành, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc.
2. Chị Lƣơng Thị Diệu H, sinh năm 1999; n i c trú: ấp T, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình D ng. Chỗ ở: khu phố 3 thị trấn Ch n Thành, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc.
Người làm chứng:
1. Chị Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 1999; n i c trú: ấp 3B, xã M, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc.
2. Chị Trà Thị Yến N, sinh năm 1993; n i c trú: ấp Hòa Vinh 1, xã Thành T, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc.
3. Chị Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1999; n i c trú: khu phố Trung Lợi, thị trấn Ch n Thành, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 30 tháng 8 năm 2020, Nguyễn Thị Minh L đến tiệm Spa “Nga Anh” thuộc Kp 3, TT. Ch n Thành, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc do chị Phạm Thị Thúy N làm chủ, để chăm sóc da. Lúc này, chị L ng Thị Diệu H là nhân viên trực tiếp t vấn cho L và chăm sóc da cho L tại gi ờng số 5. Lúc này, chị N phun chân mày cho khách hàng khác tại gi ờng số 3, chị N để 01 điện thoại Iphone 11 Pro max, g n ốp l ng màu vàng trên gi ờng số 4 (đối diện n i chị N ng i). Sau khi đ ợc chăm sóc da xong, L trả tiền phí 200.000 đ ng. Trong lúc đứng hỏi và nghe chị N t vấn việc xóa ….L phát hiện điện thoại Iphone 11 Pro max của chị N để trên gi ờng, chị N chỉ tập trung làm cho khách, s hở trông coi tài sản nên lén lút, dùng tay phải lấy điện thoại của chị N áp sát vào ng ời để che giấu, tay trái thì cầm điện thoại của L. Sau khi lấy đ ợc điện thoại của chị N, L lấy điện thoại của chị N và của L bỏ vào túi quần đang mặc đi ra cửa ra vào để lấy xe về nhà. Khi đi đến vị trí gi ờng số 1, L thấy 01 điện thoại Iphone 11 Pro max ốp l ng màu xanh của chị H đang để trên gi ờng, chị H đang dọn dẹp dụng cụ, không chú ý trông coi tài sản nên lấy điện thoại của H r i cầm trên tay b ớc ra ngoài.
Chị N phát hiện mất điện thoại nên nhờ Nguyễn Thị Ngọc M gọi điện thoại vào máy của Nga để tìm điện thoại thì nghe chuông điện thoại phát ra t ng ời của L. Chị M đuổi theo L ra cửa tiệm và hỏi “có cầm nhầm điện thoại không” thì L nhanh chóng lấy điện thoại của chị H đ a cho M. M cầm điện thoại đi vào trong thì phát hiện điện thoại này không phải của chị N, mà là của chị H nên trả cho chị H. Đ ng thời, chị M vẫn gọi vào máy điện thoại của chị N. Thấy vậy, L lấy điện thoại của mình trong túi quần bỏ vào cốp để đ trên xe mô tô nhãn hiệu Vision của mình, r i lấy điện thoại của chị N trong túi quần đ a cho Trà Thị Yến N (nhân viên của chị N) và L nói “ủa tự nhiên lấy nhầm 02 cái”. Chị Nh cầm điện thoại vào tiệm đ a cho chị N, còn L điều khiển xe mô tô về nhà.
Do nghi ngờ L lấy trộm điện thoại, Chị N mở camera của tiệm xem lại thì phát hiện L trộm c p điện thoại, không phải cầm nhầm. Sau đó, chị N nhờ Nguyễn Thị Kim Ng gọi điện thoại kêu L ra tiệm để nói chuyện. Khoảng 14 giờ cùng ngày, L cùng với mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L đến tiệm của chị N cự cãi, chửi tục với chị Ng. L bị Ngọc dùng tay đấm vào vùng miệng, gây th ng tích. Bà Loan chửi bới, đe dọa đòi đốt, băm c sở làm ăn của chị N. Đ ng thời bà L gọi điện thoại cho Nguyễn Công V (cha của L) đến để đánh nhau với Ng và hâm dọa Ng. Sau đó, chị Ng điện thoại trình báo công an thị trấn Ch n Thành.(BL 68A-73; 75-83)
Tại kết luận định giá tài sản số 91 ngày 04 tháng 9 năm 2020 của Hội đ ng định giá tài sản trong TTHS huyện C kết luận: 01 điện thoại Iphone 11 Pro max, màu xanh của Phạm Thị Thúy N có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 24.000.0000 đ ng; 01 điện thoại Iphone 11 Pro max, màu xanh của L ng Thị Diệu H có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 23.000.0000 đ ng. Tổng giá trị tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 47.000.000 đ ng.(BL45)
Quá trình điều tra thu gi : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro Max, màu vàng, 64G của Phạm Thị Thúy N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro Max, màu xanh, 64G của L ng Thị Diệu H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, màu nâu đỏ, biển số 93B1-256.39 của Trần Thị T; 01 Iphone 11 pro Max, màu xanh, 64G; 01 kính m t, gọng màu đen-đỏ; 01 áo khoác n , màu xanh lợt, có nón trùm đầu; 01 áo thun ng n tay, màu đen có ch thế giới di động và 01 quần tay dài, màu đen của Nguyễn Thị Minh L. Số vật chứng trên là tài sản hợp pháp của bị hại và ng ời có quyền, nghĩa vụ liên quan nên c quan Điều tra đã xử L vật chứng, trả lại cho chủ sở h u. (Bl 57)
Về trách nhiệm dân sự: Ng ời bị hại không yêu cầu.
Tại Bản cáo trạng số 125/CTr-VKS-CT ngày 02/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh L về tội “Trộm c p tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc gi quyền công tố trình bày quan điểm:
- Tại c quan điều tra c ng nh tại phiên tòa, bị cáo đã th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C gi nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Minh L về tội “Trộm cắp tài sản” đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51, các điều 38, 50, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh L t 07 đến 10 tháng tù, nh ng cho h ởng án treo.
Tại phiên tòa, Bị cáo khai nhận: Trong lúc nói chuyện với chị N, nhìn thấy điện thoại của chị N bỏ trên gi ờng nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt, sau khi lấy đ ợc điện thoại của chị N, bị cáo đi ngang gi ờng số 1 thấy chiếc điện thoại của chị H bị cáo lấy trộm luôn, ra đến tr ớc cửa tiệm có ng ời trong tiệm đi theo hỏi và điện thoại của chị N đổ chuông nên bị cáo đã trả lại. Bị cáo khai thêm, khi lấy trộm điện thoại bị cáo ch a nghĩ đến việc bán lấy tiền hay để sử dụng. Bị cáo đ ng ý với đề nghị xử L vụ án của đại diện VKS tại phiên tòa, không tranh luận chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của C quan điều tra Công an huyện C, tỉnh Bình Ph ớc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của C quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của hại tại c quan điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện tr ờng, đ vật, tài liệu bị tạm gi , vật chứng vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong h s vụ án đ ợc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử có đủ c sở kết luận: Ngày 30 tháng 8 năm 2020, Nguyễn Thị Minh L có hành vi lén lút lấy điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro Max, màu vàng, 64G của Phạm Thị Thúy N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro Max, màu xanh, 64G của L ng Thị Diệu H. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 47.000.000 đ ng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm c p tài sản.Cáo trạng số 125/CTr-VKS-CT ngày 02/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh L theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định tội Trộm c p tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:……….
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở h u tài sản của ng ời khác, là khách thể đ ợc pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh, trật tự tại địa ph ng.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, bị cáo nhận thức đ ợc việc lén lút chiếm đoạt tài sản của ng ời khác là vi phạm pháp luật nh ng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không phải chịu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại c quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc tr ờng hợp ít nghiêm trọng; Do đó, bị cáo h ởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét thấy bị cáo đ ợc h ởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội mang tính chất bột phát, bị cáo đã trả lại tài sản cho ng ời bị hại ngay sau khi sự việc bị phát hiện; bị cáo có n i c trú ổn định, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo h ởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện không ảnh h ởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định do đó Hội đ ng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: tài sản đã trả lại cho ng ời bị hại, Ng ời bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đ ng xét xử không xem xét.
Về xử L vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro Max, màu vàng, 64G của Phạm Thị Thúy N và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro Max, màu xanh, 64G của L ng Thị Diệu H; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, màu nâu đỏ, biển số 93B1-256.39 của Trần Thị T; 01 Iphone 11 pro Max, màu xanh, 64G; 01 kính m t, gọng màu đen-đỏ; 01 áo khoát n , màu xanh lợt, có nón trùm đầu; 01 áo thun ng n tay, màu đen có ch thế giới di động và 01 quần tây dài, màu đen của Nguyễn Thị Minh L. Số vật chứng trên là tài sản hợp pháp của bị hại, bị cáo và ng ời có quyền, nghĩa vụ liên quan nên đã xử L vật chứng, trả lại cho chủ sở h u là phù hợp với qui định tại Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bình Ph ớc là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đ ng xét xử nên đ ợc chấp nhận. [9] Án phí hình sự s thẩm:bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Minh L phạm tội “Trộm c p tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh L 09 (chín) tháng tù nh ng cho h ởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính t ngày tuyên án s thẩm;
Giao bị cáo Nguyễn Thị Minh L cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Bình Ph ớc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của các bị cáo.Trong tr ờng hợp ng ời đ ợc h ởng án treo thay đổi n i c trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu ng ời đ ợc h ởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ng ời đ ợc h ởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho h ởng án treo.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản Lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Án phí hình sự s thẩm: bị cáo Nguyễn Thị Minh L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đ ng.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, ng ời bị hại, đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án. Ng ời bị hại v ng mặt đ ợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể t ngày nhận đ ợc bản án hoặc kể t ngày bản án đ ợc tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Ph ớc; - VKSND tỉnh Bình Ph ớc - VKSND huyện C; - CCTHADS huyện C; - CA huyện C; - UBND n i c trú của bị cáo; - Ng ời tham gia tố tụng; - L u. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đình Loan |