- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: các Điều 9, 11, 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 57, 81, 82, 83, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2020/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 7 - 2020 V/v: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Văn Tuyển.
2. Bà Nguyễn Thị Tua - Nguyên Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V Th y tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Bích Thuận - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 7 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2019/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2020/QĐST-HNGĐ, ngày 17 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Kiều P, sinh năm 1990; địa chỉ: đường số, thành phố G, tỉnh K (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thanh N - Thuộc Văn phòng luật sư M, Đoàn Luật sư tỉnh H (Vắng mặt).
Bị đơn: Anh Trần Thanh L, sinh năm 1991; địa chỉ: Ấp 01, thị trấn N, huyện V, tỉnh H (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2019, nguyên đơn chị Phan Thị Kiều P trình bày: Vào năm 2011, giữa chị P với bị đơn anh Trần Thanh L xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn. Anh chị sống hạnh phúc đến khoảng tháng 6/2011 thì phát sinh mâu thuẫn, cho đến cuối năm 2011 thì ly thân cho đến nay, nguyên nhân do vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau. Do đó, chị P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với bị đơn. Về con chung: giữa chị với anh L có 01 con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 10/9/2010, hiện nay cháu K do chị P đang nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình thu thập chứng cứ, bị đơn anh Trần Thanh L đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không lý do, cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án gồm: Đơn khởi kiện; bản tự khai; bản sao giấy khai sinh cháu K; bản phô tô giấy chứng minh nhân dân; sổ hộ khẩu (phô tô), giấy chứng nhận kết hôn, đơn xin xác nhận, giấy xác nhận đã nhận đơn khởi kiện; đơn yêu cầu luật sư, thông báo luật sư tham gia tố tụng, chứng chỉ hành nghề luật sư, thẻ luật sư, thông báo nộp tạm ứng án phí, biên bản giao nhận văn bản tố tụng, biên bản tống đạt, biên lai thu tạm ứng án phí, quyết định phân công Thẩm phán, thông báo thụ lý vụ án, biên bản xác minh nguyên nhân tranh chấp; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (lần 1); biên bản không tiến hành hòa giải được; quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử; biên bản lấy lời khai cháu K; biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (lần 2); thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản giao nhận hồ sơ, quyết định phân công Kiểm sát viên; quyết định đưa vụ án ra xét xử; đơn yêu cầu xét xử vắng mặt của nguyên đơn; biên bản phiên tòa, biên bản thảo luận, quyết định hoãn phiên tòa, biên bản tống đạt.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, cũng như ý thức chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng pháp luật, bị đơn chấp hành không đúng pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Phan Thị Kiều P với anh Trần Thanh L được ly hôn; về con chung, chị P được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Bảo K, anh L chưa phải cấp dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không có nên không đề cập đến. Án phí chị P phải nộp theo quy định; kiến nghị khắc phục vi phạm: không có.
Các tình tiết, sự kiện các bên đã thống nhất: Không có.
Vấn đề đương sự không thống nhất: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Áp dụng pháp luật về tố tụng: Chị Phan Thị Kiều P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Trần Thanh L, do anh L có địa chỉ tại ấp 01, thị trấn N, huyện V. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xác định quan hệ tranh chấp thuộc trường hợp: “Tranh chấp về ly hôn và nuôi con”, thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Đối với bị đơn anh Trần Thanh L, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; ngày 05/6/2020 nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b, đ khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, để xét xử vắng mặt.
Áp dụng pháp luật về nội dung: Vào ngày 03/11/2011, giữa chị P với anh L xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn, nên áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết tranh chấp.
Về quan hệ hôn nhân: Thời điểm chị P với anh L xác lập quan hệ vợ chồng, và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện V, anh chị đã đủ điều kiện đăng ký kết hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn, đến năm 2011, giữa chị P với anh L phát sinh mâu thuẫn, nên anh chị đã ly thân từ cuối năm 2011 cho đến nay; theo biên bản xác minh ngày 12/12/2019, thì mâu thuẫn giữa anh chị địa phương không rõ; anh L với chị P có một con chung, hiện đã theo chị P về quê chị P; như vậy, từ khi ly thân cho đến nay là một thời gian dài, các bên không có thiện chí khắc phục mâu thuẫn, để xây dựng hạnh phúc gia đình và chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, mẫu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu xin ly hôn của chị P là có căn cứ.
Về con chung: Giữa chị P với anh L có 01 con chung tên Trần Bảo K, sinh ngày 10/9/2010, hiện nay do chị P đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, cháu K đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng sống với chị P (BL 28). Về phía bị đơn anh L, quá trình thu thập chứng cứ, cho đến phiên tòa hôm nay là một thời gian dài, mặc dù đã nhận được thông báo hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do, cũng không có ý kiến gì về việc nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng: Trong đơn khởi kiện, chị P không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự; do đó, anh L chưa phải cấp dưỡng. Sau khi ly hôn, nếu việc nuôi dưỡng con chung gặp khó khăn, chị P có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng bằng một vụ án khác.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo đơn khởi kiện, chị P khẳng định về nợ chung và tài sản chung không có, nên không đề cập đến.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Do chị P là nguyên đơn trong vụ án. Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “4. Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Căn cứ vào quy định của pháp luật viện dẫn trên, thì chị P phải chịu án phí. Do đó, ý kiến của Kiểm sát viên đề xuất hướng giải quyết vụ án là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: các Điều 5, 6, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và 4 Điều 91, khoản 1 Điều 92, Điều 93, Điều 94, Điều 97, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b, đ khoản 2 Điều 227, khoản 1 và 3 Điều 228, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng: các Điều 9, 11, 89, 91 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; các Điều 57, 81, 82, 83, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị Kiều P.
1. Về hôn nhân: Cho chị Phan Thị Kiều P với anh Trần Thanh L được ly hôn.
2. Về con chung: Chị Phan Thị Kiều P được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Trần Bảo K, sinh ngày 10/9/2010. Anh Trần Thanh L chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, nên không đề cập đến.
4. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Phan Thị Kiều P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000824, ngày 10 tháng 12 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang thành án phí. Chị P đã nộp xong.
5. Quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh Hậu Giang; - VKSND huyện Vị Thủy; - Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - UBND (nơi Đăng ký kết hôn); - Lưu hồ sơ vụ án, VP; - Cổng TTĐT (để công bố); | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng |