- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh T phạm tội “Cướp giật tài sản”. - phạm tội cướp giật tài sản (điều 136 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| --------------------- Bản án số: 124/2019/HSST Ngày: 08/11/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP. ĐÀ NẴNG.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phạm Hùng
Ông Ngô Văn Sỹ
- Thư ký phiªn tßa: Bà Chu Thị PH Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân quận
Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Bão - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu,
thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 113/2019/HSST ngày 19/9/2019 đối với bị cáo:
Huỳnh T. Tên gọi khác: Beo; Sinh ngày 08 tháng 10 năm 1989, tại TP. Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ 08 phường H, quận L, thành phố Đ; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh B và bà Đặng Thị V.Vợ: Trần Thị T.
Tiền án: Chưa.
Tiền sự: Ngày 09/10/2017, bị Công an quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng xử
phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Nhân thân: Ngày 27/10/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt
02 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 27/2010/HSPT ngày 27/01/2010.
Bị bắt ngày 12/8/2019. Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại:
- Bà Dƣơng Huyền H - Sinh năm 1971. Địa chỉ: Số 40 đường H, phường H,
quận L, thành phố Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Công H1 - Sinh năm 1987. Tổ 08, phường H, quận L, thành
phố Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h40’ ngày 11/8/2019, Huỳnh T điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha
Exciter BKS: 43F1 - xxx.xx (xe này của anh Huỳnh Công H1 trú tổ 08, phường H, quận L đứng tên chủ sở hữu) để đi xin việc làm. T điều khiển xe mô tô đến đường H, phường Hòa Minh thì phát hiện anh Trần Vĩnh Đ điều khiển xe mô tô chở phía sau mẹ ruột là bà Dương Huyền H, trú số 40 đường H, phường H, quận L, trên tay bà H đang cầm 01 ví da bên trong có số tiền 1.460.000 đồng cùng một số giấy tờ tùy thân nên T nảy sinh ý định cướp giật tài sản. Khi đến gần số nhà 217 đường H, phường Hòa Minh, T điều khiển xe mô tô áp sát phía bên trái xe mô tô do Đ điều khiển và dùng tay giật chiếc ví trên tay của bà H rồi bỏ chạy về hướng đường T trốn thoát. Sau khi cướp giật được tài sản, T điều khiển xe mô tô đến đoạn bờ kè đường Nguyễn Tất Thành, thuộc tổ 32, phường Hòa Khánh Bắc và lục tìm tài sản trong ví, do vội vàng nên T lấy được số tiền khoảng hơn 1.160.000 đồng, còn chiếc ví và giấy tờ tùy thân của chị H thì vứt lại tại đây. Sau khi chiếm đoạt được tài sản, T tiêu xài cá nhân còn lại 90.000 đồng. Đến ngày 12/8/2019, Cơ quan điều tra đã làm việc được với T và tạm giữ các tài liệu, đồ vật có liên quan. Tại Cơ quan điều tra, T đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như đã nêu trên.
Tang vật thu giữ:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đỏ - đen, BKS: 43F1 - xxx.xx;
- 01 ví da màu xám có ghi chữ Chanel N’5;
- 01 Giấy CMND mang tên Dương Huyền H;
- 01 Thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Dương Huyền H;
- 01 Thẻ Vietinbank mang tên Dương Huyền H;
- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 90.000 đồng.
Theo kết luận định giá số: 68/KL-HĐĐG ngày 20/8/2019 của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng của UBND quận Liên Chiểu kết luận: giá trị SDCL của ví cầm tay màu xám đã sử dụng là 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản mà Huỳnh T đã chiếm đoạt của bà Dương Huyền H là:
1.610.000đ (Một triệu sáu trăm mười ngàn đồng).
Ngày 03/8/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên Chiểu đã ra Quyết định
xử lý vật chứng số 78/CSĐT. Trả lại: 01 ví da màu xám có ghi chữ Chanel N’5; 01 Giấy CMND mang tên Dương Huyền H; 01 Thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Dương Huyền H; 01 Thẻ Vietinbank mang tên Dương Huyền H; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 90.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Dương Huyền H. Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đỏ - đen, BKS: 43F1 - xxx.xx cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Huỳnh Công H1.
Về dân sự: Gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị
hại không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 17/9/2019 bị cáo Huỳnh T bị Viện
kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố
Đà Nẵng giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo Huỳnh T, đề nghị HĐXX:
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS, Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Huỳnh T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Về phần dân sự: Gia đình bị cáo Huỳnh T đã khắc phục hậu quả cho người bị
hại, người bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Ngày 03/8/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên
Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 78/CSĐT. Trả lại: 01 ví da màu xám có ghi chữ Chanel N’5; 01 Giấy CMND mang tên Dương Huyền H; 01 Thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Dương Huyền H; 01 thẻ Vietinbank mang tên Dương Huyền H; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 90.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Dương Huyền H. Trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đỏ - đen, BKS: 43F1
- xxx.xx cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Huỳnh Công H1 nên không đề cập đến.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh T đã khai báo thành khẩn
hành vi phạm tội của mình. Bị cáo T cho rằng cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS là đúng người, đúng tội. Bị cáo đã thấy được sai trái, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại
phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định:
Khoảng 19h00’ ngày 11/8/2019, Huỳnh T điều khiển xe mô tô BKS: 43F1 -
xxx.xx đến đoạn phía trước nhà 217 H, quận Liên Chiểu thì T có hành vi cướp giật ví da của bà Dương Huyền H đang cầm trên tay và ngồi phía sau xe mô tô do anh Trần Vĩnh Đ điều khiển. Tồng giá trị tài sản bị cáo T chiếm đoạt có giá trị 1.610.000đ (Một triệu sáu trăm mười ngàn đồng).
Hành vi của bị cáo Huỳnh T đã bị Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu,
TP. Đà Nẵng truy tố về tội “Cướp giật tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ phạm tội và nhân thân của
bị cáo thì thấy: Trong thời gian qua T trạng cướp giật tài sản vẫn còn xảy ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, cần phải được ngăn chặn kịp thời. Huỳnh T là một thanh niên nhưng không chịu lao động mà muốn kiếm sống bằng tài sản của người khác. Huỳnh T sử dụng xe mô tô làm pH tiện và cướp giật tài sản của bà Dương Huyền H đang ngồi trên xe do anh Đ đang điều khiển dể dẫn đến nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe. Hành vi của bị cáo Huỳnh T không những trực tiếp xâm phạm tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, đã phạm vào điểm d khoản 2 điều 171 BLHS có mức hình phạt từ ba năm đến mười năm tù. Bị cáo đã có tiền sự ngày 09/10/2017 bị Công an quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác và nhân thân ngày 27/10/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 27/2010/HSPT ngày 27/01/2010 nên cần phải xử phạt với mức án nghiêm minh mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và ngăn ngừa chung.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xét các T tiết giảm nhẹ cho bị cáo
Huỳnh T như: Thái độ khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người bị hại và người bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình có công với cách mạng nên xét chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Huỳnh T đã tác động gia đình bồi thường
cho chị Dương Huyền H số tiền 1.370.000 đồng, chị H không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng: Ngày 03/8/2019, Cơ quan CSĐT Công an quận Liên
Chiểu đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 78/CSĐ trả lại 01 ví da màu xám có ghi chữ Chanel N’5; 01 Giấy CMND mang tên Dương Huyền H; 01 Thẻ Bảo hiểm y tế mang tên Dương Huyền H; 01 Thẻ Vietinbank mang tên Dương Huyền H; Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: 90.000 đồng cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Dương Huyền H; trả lại 01 xe mô tô hiệu Yamaha Exciter màu trắng - đỏ - đen, BKS: 43F1
- xxx.xx cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Huỳnh Công H1 nên không đề cập đến.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12
năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Huỳnh T phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ
luật hình sự.
Xử phạt:
- Huỳnh T 04 (Bốn) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
12/8/2019.
2. Về án phí: Bị cáo Huỳnh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án
phí HSST.
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Riêng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền
kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án tại địa pH nơi cư trú.
| Nơi nhận: - Viện KSND quận Liên Chiểu; - Viện KSND TP. Đà Nẵng; - Chi cục T.H.A DS Q.Liên Chiểu; - Công an quận Liên Chiểu; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Cúc |