- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Kim T - Nguyễn Thanh L"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Kim T.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20/11/2019. V/v:“Xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà: Trần Thị Lệ.
2. Ông: Nguyễn Chí Đạt.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 303/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2019 về việc “Xin ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 9 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Kim T, sinh năm 1972. (Có mặt)
Địa chỉ: Số 126/3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu phố Đồng Khởi, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1973. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số 126/3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu phố Đồng Khởi, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa, nguyên đơn bà Phạm Kim T trình bày:
Bà Phạm Kim T và ông Nguyễn Thanh L tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới vào năm 1992 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang vào ngày 27/9/2006. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, bất đồng quan điểm và đã sống ly thân từ tháng 10/2018 cho đến nay. Nay bà T xin ly hôn ông L với lý do: Vợ chồng không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm đến nhau. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục nên bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà T xác nhận giữa bà và ông L quá trình chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 17/11/1997, hiện nay đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Phạm Kim T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh L. Xác nhận tự thỏa thuận tài sản chung và cam kết không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Thanh L vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Kim T khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh L có nơi đăng ký thường trú tại địa chỉ số 126/3 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, khu phố Đồng Khởi, phường Vĩnh Quang, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điêm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Thanh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử nhưng vẫn vắng mặt, cũng không có căn cứ cho việc vắng mặt của ông L là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Kim T và ông Nguyễn Thanh L tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn Tân Hiệp, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 27/9/2006, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Bà T khởi kiện xin ly hôn ông Tuấn với lý do: Vợ chồng không còn tình cảm, cả hai không còn quan tâm đến nhau. Bà T và ông L đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành nên cũng đã sống ly thân từ tháng 10/2018 đến nay.
Bị đơn ông Nguyễn Thanh L đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng ông L vẫn cố tình vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu xin ly hôn cũng như chứng cứ do bà T cung cấp. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông L đã được Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng ông L vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa, bà T xác định giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Kim T.
Về con chung: Bà Phạm Kim T xác định giữa bà và ông L có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Kim T, sinh ngày 17/11/1997, hiện nay đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Kim T xác định tự thỏa thuận tài sản chung và cam kết hiện nay không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Thanh L cũng không có ý kiến gì về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ kiện này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điề u 147 của Bộ luậ t Tố tụ ng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bà Phạm Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006004 ngày 05/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bà Phạm Kim T đã nộp đủ án phí phải nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 91, khoản 4 Điề u 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 và Mục A Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Phạm Kim T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Thanh L.
2. Về con chung: Xét con chung đã thành niên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có khả năng tự lao động nuôi sống bản thân, nên Tòa án không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phạm Kim T xác nhận tự thỏa thuận tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết và cam kết hiện nay không có nợ chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Nếu sau này ông Nguyễn Thanh L có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác.
4. Về án phí : Bà Phạm Kim T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0006004 ngày 05/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Rạch Giá. Bà Phạm Kim T đã nộp đủ án phí phải nộp.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/11/2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. * Nơi nhận:
| - VKSND TP. Rạch Giá; - TAND tỉnh Kiên Giang; - Chi cục THSDA TP. Rạch Giá; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Vũ Thị Phƣơng Thanh |