- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 584 Bộ luật Dân sự
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM! !!TỈNH!HẬU!GIANG!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!Độc!lập!–!Tự!do!–!Hạnh!phúc! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 124/2018/DS-PT Ngày: 09 - 10 - 2018 “V/v: Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!TỈNH!HẬU!GIANG!
-!Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"phúc"thẩm"gồm"có:"
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Khải
Các Thẩm phán:
Ông Trương Đình Nghệ
Ông Nguyễn Hồng Thanh
-"Thư"ký"phiên"tòa: Bà Phạm Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang
- Đại"diện"Viện"Kiểm"sát"nhân"dân tỉnh"Hậu"Giang: Bà Phùng Bích T - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 09 tháng 10 năm 2018, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 91/2018/TLPT-DS, ngày 17 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/DS-ST, ngày 25 tháng 7 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện 3, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 273/2018/QĐPT-DS ngày 20 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị M; Địa chỉ ấp 1, thị trấn 2, huyện 3, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Bà Trần Thị T; Địa chỉ ấp 1, thị trấn 2, huyện 3, tỉnh Hậu Giang.
5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị T.
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN
Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn bà Dương Thị M trình bày: Vào ngày 27/6/2017, do có tranh chấp về đất và hoa màu trên đất, nên bà M và bà Trần Thị T xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, trong lúc cự cãi thì bà T đã dùng cây tre đánh bà M và dùng tay bóp cổ, nắm tóc và đánh lên đầu bà M nhiều cái. Hậu quả làm bà M bị thương tích ở cánh tay trái và bị thương ở đầu. Sau đó, bà M đi khám tại bệnh viện Hoàn Mỹ và bệnh viện 121 tại Cần Thơ để mua thuốc điều trị và có đi tái khám tổng cộng 3 lần. Nay, bà M khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm bồi thường cho bà tổng số tiền là 6.600.000đ, trong đó tiền thuốc theo toa vé là 3.600.000đ, tiền mất thu nhập là 3.000.000đ .
Bị đơn bà Trần Thị T trình bày: Vào ngày 27/6/2017, bà M đến nhà bà T dùng cây Om Lá đánh vào lưng bà T rồi bỏ chạy ra ngoài, bà T chạy ra theo, hai bên xảy ra cự cãi, lúc cự cãi bà M cầm bẹ Dừa đánh bà T, bà T giật lại bẹ Dừa thì bị bà M nắm tóc nên bà T nắm tóc lại và dùng bẹ Dừa để đánh lại bà M. Sau đó cả hai cùng bị té xuống đất, lúc này ông Dương Văn H là anh ruột của bà M chạy đến đánh vào đầu bà T và nhận đầu bà T xuống đất nên bà T bỏ chạy vào nhà. Sự việc xảy ra do bà M tự ý vào nhà bà kiếm chuyện cự cãi và đánh bà trước, bà cũng bị xây xát. Do đó, bà T không đồng ý bồi thường cho bà M.
Người làm chứng ông Dương Văn H trình bày: Ngày 27/6/2017, ông H đi ra vườn thì thấy bà T đè bà M xuống đất, một tay nắm tóc, một tay đánh bà M, ông chạy đến can thì bà T bỏ chạy vào nhà.
Tại Bản án sơ thẩm số 26/2018/DS-ST, ngày 25/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện 3, tỉnh Hậu Giang đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M. Buộc bà Trần Thị T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho bà Dương Thị M với tổng số tiền 2.843.886đ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định.
Ngày 07/8/2018, bà Trần Thị T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm và cho rằng, nguyên nhân xảy ra xô xát là do bà Dương Thị T đến nhà của bà chửi bới và đánh bà trước, bà chỉ chống trả lại nên bà không đồng ý bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: !
[1] Bà Dương Thị M khởi kiện và cho rằng, ngày 27/6/2017, giữa bà với bà Trần Thị T xảy ra xô xát, đánh nhau tại ấp Phú Đông, thị trấn Mái Dầm, huyện 3, tỉnh Hậu Giang, hậu quả làm cho bà Dương Thị M bị thương tích phải đi điều trị sức khỏe nên bà yêu cầu bà Trần Thị T có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết vụ án theo quan hệ pháp luật về “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm” là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
[2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 07/8/2018 bị đơn Trần Thị T có đơn kháng cáo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Xét kháng cáo của bà Trần Thị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ việc tranh chấp đất đai, hoa màu mà bà Dương Thị M và bà Trần Thị T đã xảy ra cự cãi và đánh nhau. Trong lúc xô xát, bà T đã dùng bẹ Dừa đánh trúng vào phần tay và đầu của bà M, dẫn đến hậu quả bà M bị thương tích phải điều trị. Hành vi của bà Trần Thị T đã bị chính quyền địa phương lập biên bản và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác; Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà T cũng thừa nhận trong lúc xảy ra cự cãi và xô xát với bà M thì bà T có dùng sống Dừa đánh vào tay và vào đầu của bà M. Căn cứ biên bản xử phạt vi phạm hành chính và lời thừa nhận của bà T có cơ sở khẳng định bà T gây thương tích cho bà M là sự thật, nên bà M yêu cầu bồi là phù hợp với qui định của pháp luật.
Sau khi sự việc xảy ra bà M không phải nằm viện điều trị mà mua thuốc uống điều trị tại nhà theo chỉ định của bác sĩ và sau đó thì bà M có đi tái khám tại bệnh viện 03 lần nên chi phí điều trị thực tế là có phát sinh và cấp sơ thẩm buộc bà Trần Thị T bồi thường cho bà Dương Thị M dựa trên các biên lai, chứng từ điều trị hợp lệ với số tiền 2.193.886đ là phù hợp.
Đối với yêu cầu bồi thường mất thu nhập, cấp sơ thẩm căn cứ vào những phiếu hẹn tái khám để tính số ngày công lao động của bà M bị mất là 05 ngày và căn cứ vào mức thu nhập trung bình của người dân tại địa phương là 130.000đ/ngày để buộc bà T có trách nhiệm bồi thường mất thu nhập cho bà M số tiền 650.000đ là có cơ sở.
Tổng chi phí mà bà T phải bồi thường cho bà M là 2.843.886đ mà cấp sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ.
[4] Từ những nhận định nêu trên, xét thấy yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị T là không có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT!ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Trần Thị T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị M. Buộc bà Trần Thị T bồi thường cho bà Dương Thị M tổng số tiền là 2.843.886đ (Hai triệu tám trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm tám mươi sáu đồng).
Kể từ ngày bà M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà T chậm trả số tiền trên thì hàng tháng bà T còn phải trả cho bà M số tiền lãi chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự:
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017731 ngày 09/8/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện 3, tỉnh Hậu Giang thành án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 09/10/2018. Nơi"nhận:"
| - VKSND tỉnh Hậu Giang - TAND H. 3; - Chi cục THADS H. 3; - Các đương sự - Lưu hồ sơ vụ án. ! | TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM! THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! " Võ!Hoàng!Khải! ! |