vanban.org

Bản án 124/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trá i phép chấ t ma tú y”

Áp dụng điể m b khoả n 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự . Điều 76; Điề u 99; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 7 (Bảy) năm tù. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T MBTPCMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trá i phép chấ t ma tú y”
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 124/2017/HSST
Ngày 19/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễ n Trọ ng Trườ ng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễ n Bỉnh Thái

Ông Dương Văn Hánh

Nhƣ̃ ng ngƣờ i tiế n hà nh tố tụ ng khá c tạ i phiên tò a:

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trầ n Văn Quang - Thẩ m tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2017/TLST-HS ngà y 18/8/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2017/HSST-QĐ ngà y 05/9/2017 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1986

HKTT và chỗ ở: Khu phố V, phường Đ, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 12/12;

Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1954 (đã chết);

Con bà Trần Thị C, sinh năm 1956;

Gia đình có 02 chị em, bị cáo là thứ hai.

Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/6/2017 cho đến nay. Hiệ n đang tạ m giam tạ i Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại phiên toà.

*Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Ninh.

2/ Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1995 (Vắ ng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 9 giờ ngày 01/6/2017, Nguyễn Văn H liên lạc qua điện thoại hỏi mua của Nguyễn Văn T 02 túi ma túy với giá 200.000 đồng/túi và hẹn mang đến đường TS9 khu công nghiệp T thuộc xã N, huyện T. T vào phòng ngủ lấy 01 túi ma túy đi bộ từ nhà đến chỗ hẹn với H. Trên đường đi T đã chia 01 túi ma túy mang theo thành 02 túi nhỏ. Khoảng 10 giờ 20 phút T đi đến đường TS9 khu công nghiệp T thì nhìn thấy H đang đứng cùng Nguyễn Văn Tr. T bán cho H 01 túi ma túy với giá 200.000. Sau đó Tr cũng hỏi mua ma túy nên T bán 01 túi ma túy cho Tr, đồng thời nhận 200.000 đồng. Tr vừa cầm túi ma túy T đưa thì bị lực lượng Công an huyện Tiên Du phối hợp với lực lượng Công an xã N kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại lòng bàn tay phải của H có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) và 01 điện thoại di động Samsung GT-S7270; thu giữ của Tr tại lòng bàn tay phải có 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2); Thu giữ của T 01 điện thoại di động Huawei và 700.000 đồng. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa T, H, Tr về trụ sở Công an xã N để làm việc. Kết luận giám định số 751/KLGĐ-PC54 ngày 01/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh thể hiện:

“+ Chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1 có trọng lượng 0,1043 gam; Là ma túy. Loại ma túy: Chất Methamphetamine.

+ Chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2 có trọng lượng 0,1254 gam; Là ma túy. Loại ma túy: Chất Methamphetamine.”

Hồi 13 giờ ngày 01/6/2017, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Tiên Du đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Nguyễn Văn T. Thu giữ tại ngăn kéo bàn máy vi tính trong phòng ngủ có 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) và tại chiếc giầy màu đen ở gầm giường trong phòng ngủ có 02 túi nilon chứa 161túi nilon màu trắng (bên trong các túi không chứa gì). Kết luận giám định số 779/KLGĐ-PC54 ngày 06/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh thể hiện: “Chất tinh thể màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M3 có trọng lượng 0,0136 gam; Loại ma túy: Chất Methamphetamine”. Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 94/CTr- VKS ngày 18/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trá i phé p chấ t ma tú y” theo điểm b khoản 2 Điề u 194 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T khai nhận: Bị cáo sử dụng chất ma túy từ tháng 4/2017. Quá trình sử dụng ma túy bị cáo nảy sinh ý định bán chất ma túy kiếm lời để có tiền mua ma túy phục vụ bản thân. Ngày 31/5/2017 bị cáo mua 01 gói ma túy của người đàn ông không quen biết ở khu vực C, phường Đ với giá 350.000 đồng. Ngày 01/6/2017 có H nhắn tin hỏi mua ma túy nên bị cáo đồng ý và hẹn gặp nhau ở khu công nghiệp T. Khi đi bị cáo chia nhỏ gói ma túy ra 02 túi nilon nhỏ rồi bán cho H, Tr mỗi người 01 túi ma túy giá 200.000 đồng. Khi vừa bán ma túy cho Tr xong thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang. Cơ quan Công an thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại và 700.000 đồng (Trong đó 400.000đ là do bị cáo bán ma túy cho Tr và H, còn lại 300.000đ là của bị cáo không liên quan đến việc bán ma túy). Nay bị cáo xin lại số tiền 300.000đ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan H , Tr vắng mặt tại phiên tòa, lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Tr, H đều là đối tượng sử dụng chất ma túy từ năm 2016. Ngày 01/6/2017 do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên H liên lạc với bị cáo T để mua chất ma túy. H mua của bị cáo T 01 túi ma túy với giá 200.000 đồng. Tr đi theo H thấy vậy cũng bỏ ra 200.000 đồng mua 01 túi ma túy của bị cáo T. Tr vừa giao dịch xong chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 02 túi ma túy và thu giữ của H 01 điện thoại di động.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố cá c bị cáo theo Cáo trạng số 94/CTr- VKS ngày 18/8/2017. Trong phần luận tội đã phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điể m b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33 Bộ luậ t hì nh sự : Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2017. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vậ t chứ ng : Áp dụng Điều 41 Bộ luậ t hì nh sự , Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng hình sự : Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì thư chứa mẫ u vậ t cò n lạ i sau giá m đị nh, 02 túi nilon bên trong có 161 túi nilon; tịch thu sung công 02 chiếc điện thoại di động và 400.000 đồng. Trả lại bị cáo 300.000 đồng nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sá t nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bả n thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lờ i khai củ a ngườ i là m chứ ng , vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án . Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày ngà y 01/6/2017 tại khu công nghiệp T thuộ c xã N , huyệ n T , bị cáo Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi bán 01 túi ma túy Methamphetamine trọng lượng 0,1043 gam cho Nguyễn Văn H, 01 túi ma túy Methamphetamine trọng lượng 0,1254 gam cho Nguyễn Văn Tr, thu số tiền 400.000 đồng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều 194 Bộ luật hình sự. Bị cáo T thực hiện hành vi bán ma túy cho 02 người, căn cứ tiểu mục 2.3 mục I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 thì hành vi trên thuộc trường hợp “Phạm tội nhiều lần” quy đị nh tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Ngoài ra quá trình khám xét thu giữ tại nhà bị cáo T 01 gói ma túy chứ a 0,0136 gam chấ t Methamphetamine . Do chưa đủ trọ ng lư ợng truy cứu trách nhiệ m hì nh sự về tộ i “Tà ng trữ trá i phé p chấ t ma tú y” nên Cáo trạng truy tố bị cáo về tộ i “ Mua bá n trá i phé p chấ t ma tú y” là đú ng ngườ i, đú ng tộ i, đú ng phá p luậ t.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây khó khăn trong công tác phòng chống ma túy. Ngoài ra hành vi của bị cáo làm tăng nguy cơ lây truyền vi rút HIV trong cộng đồng, ảnh H xấu đến sự phát triển tương lai giống nòi, nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm khác. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân bị cá o thì thấy : Bị cáo là đối tượng sử dụng chấ t ma tú y . Ngày 28/11/2006 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm xử phạt bị cáo 20 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tính đến nay không xác định tiền án nhưng cần đánh giá về nhân thân bị cáo khi lượng hình.

Về cá c tì nh tiế t giả m nhẹ , tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự : Tại cơ quan điều tra cũ ng như tạ i phiên tò a hôm nay bị cá o có thá i độ khai bá o thà nh khẩ n , ăn năn hố i cả i về hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân . Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự . Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hì nh phạ t bổ sung : Bị cáo phạm tội với mục đích kiếm lời nên cần áp dụng hì nh phạ t bổ sung phạ t tiề n đố i vớ i bị cá o.

Về xử lý vậ t chứ ng : Mẫ u vậ t cò n lạ i sau giá m đị nh và 02 túi nilon chứa 161 túi nilon cầ n tị ch thu tiêu hủ y. 02 chiế c điệ n thoạ i bị cáo T và đối tượng H sử dụng liên lạc với nhau trong quá trì nh mua bán chất ma túy vẫ n cò n giá trị nên tị ch thu sung công. Đối với số tiền 400.000 thu giữ trên ngườ i bị cá o là do các đối tượng Tr, H trả khi mua ma túy cần tịch thu sung công. Số tiền 300.000 đồng thu giữ của bị cáo T không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn Tr đã có hành vi mua chất ma túy của bị cáo T ngày 01/6/2017. Quá trình điều tra xác định mục đích của H và Tr là mua ma túy về để phục vụ nhu cầu của bản thân. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của H và Tr chưa đủ trọng lượng cấu thành tội phạm. H và Tr chưa có tiền án, tiền sự nên cơ quan Công an huyện Tiên Du đã xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là phù hợp.

Liên quan trong vụ án có người lái xe ôm đã chở T đi mua ma túy và người đàn ông bán ma túy tại khu vực C, phường Đ, thị xã T, T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1.Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trá i phép chấ t ma tú y”

2. Áp dụng điể m b khoả n 2, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Điề u 41 Bộ luậ t hì nh sự . Điều 76; Điề u 99; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Văn T 7 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/6/2017.

Phạt bổ sung bị cáo 7.000.000 đồng sung công quỹ nhà nước.

Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

3. Về xử lý vậ t chứ ng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 02 phong bì thư đượ c niêm phong dá n kí n bên ngoà i đó ng dấ u niêm phong và chữ ký của giám định viên - Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh;

+ 02 túi nilon bên trong có 01 túi chứa 87 túi nilon màu trắng và 01 túi chứa 74 túi nilon màu trắng (bên trong các túi không chứa gì).

- Tịch thu sung công nhà nước:

+ 400.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

+ 01 chiếc điện thoại di động Huawei màu vàng kèm theo simcard của bị cáo T;

+ 01 chiếc điện thoại di động Samsung GT-S7270 màu đen kèm simcard;

- Trả lại bị cáo 300.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việ t Nam nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng ngà y 29 /8/2017)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ