- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hồng T ly hôn với Trần Nguyên B"
- Tòa quyết gì? * Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố Tụng Dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NDTP NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA Số: 124/2017/HNGĐ - ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 27/7/2017 V/v: “Ly hôn” NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Vũ Linh
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Công Khánh
2/ Ông Nguyễn Văn Lập
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Quang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Đại diện Viê ̣n Kiểm sá t nhân dân thành phố Nha Trang tham gia phiên tòa
: Ông Lê Hoàng Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nha Trang đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án Hôn nhân và gia đình, thụ lý số 148/2017/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2017/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2017 và Quyế t đi ̣nh hoãn phiên tòa số: 86/2017/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà T
Địa chỉ: tổ 4, thôn A, xã B, tp C, Khánh Hòa.
Có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Ông B
Địa chỉ: tổ 4, thôn A, xã B, tp C, Khánh Hòa.
Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn - bà T trình bày: bà và ông B kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã B, tp C, Khánh Hòa và có 01 con chung là Trần Ngọc Anh T – sinh ngày 20/10/2015.
Trong thời gian đầu sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, đến cuối năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên kình cải, bất đồng quan điểm sống, hai người đã cùng cố gắng hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không thành. Từ tháng 12 năm 2015 thì vợ chồng bà đã sống ly thân cho đến nay, trong quá trình sống ly thân , hai bên không còn liên lạc và quan tâm nhau. Đến nay tình cảm vợ chồng không còn nên bà T xin được ly hôn với ông B.
Về con chung: Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì cho rằng cháu Thư còn nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ. Hơn nữa ông B không quan tâm đến con chung, từ lúc hai người sống ly thân, ông Bảo để mặc con cho bà T nuôi dưỡng. Bà T không yêu cầu ông B phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà T không yêu cầu giải quyết.
Đối với bị đơn – Ông B, Tòa án đã tiến hành tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng cho ông. Ông B có cư trú rõ ràng, sinh sống ổn định tại địa phương nhưng thường xuyên vắng mặt nên Tòa án đã phối hợp với đại diện chính quyền địa phương đã lập và niêm yết công khai các văn bản tố tụng tại nhà cũng như tại trụ sở UBND nơi ông B cư trú. Do đó, Tòa án có đầy đủ căn cứ để tiến hành mở phiên tòa xét xử công khai vụ án theo thủ tục tố tụng.
Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên nhận định: Tòa án nhân dân thành phố C thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện hồ sơ vụ án đúng trình tự quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, xét mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Do ông B không đến Tòa án để giải quyết vụ án, nên Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tung. Tại phiên tòa lần thứ hai (ngày 27/7/2017), ông Trần Nguyên Bảo cũng không có mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bô ̣ luâ ̣t tố tụng dân sự năm 2015, Hô ̣i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Trần Nguyên Bảo là đúng quy định.
Về quan hệ hôn nhân và gia đình: Bà T và ông B kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại UBND xã B, tp C, Khánh Hòa .nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống bà T và ông B phát sinh mâu thuẫn do lối sống, quan điểm, tính cách không phù hợp nhau. Mâu thuẫn kéo dài dẫn đến các bên đã sống ly thân gần hai năm, không còn quan tâm nhau. Tại phiên tòa bà T khẳng định không còn tình cảm vợ chồng và mong muốn được ly hôn với ông B. Đối với ông B, đã được Tòa án niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ tại nơi cư trú nhưng ông cũng không đến Tòa để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Điều này chứng tỏ, ông B không còn quan tâm và bỏ mặc cuộc hôn nhân này. Như vậy, có thể thấy rằng hôn nhân giữa bà T và ông B là mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được và nếu duy trì cuộc sống chung vợ chồng cũng không đem lại hạnh phúc cho các bên . Vì vậy, yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà T đối với ông B là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và già đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Xét yêu cầu bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi các bên ly thân thì bà T là người nuôi dưỡng và chăm sóc cháu T. Bên cạnh đó, cháu T còn nhỏ nên cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Do vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của con chung, giao cháu T cho bà Thúy nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông B.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
Về án phí: Bà T phải nộp án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố Tụng Dân sự 2015;
* Áp dụng Nghị quyết 326/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T được ly hôn vớ i ông Trần Nguyên B.
- Về con chung: Giao con chung là cháu T – sinh ngày 20/10/2015 cho bà T trực tiếp trông nom , chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông B.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, bà T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con; ông B có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xét.
2. Về án phí: Bà T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số AA/2016/0006117 ngày 01/3/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nha Trang. Bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Bà T được quyền kháng cáo bản á n sơ thẩm trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày tuyên án . Ông B được quyền kháng cá o trong ha ̣n 15 ngày kể từ ngày nhâ ̣n được bản án hoă ̣c từ ngày bản án được niêm yết công khai , để đề nghị Tòa án nhân dân tinh Khả
́nh Hòa xét xử theo trinh tự̀
phúc thẩm.
Nơi nhận:
| - TA tinh Khánh Hòa;̉ - VKS TP. Nha Trang; - THA TP Nha Trang; - UBND xã C; - Các đương sự; - Lưu: HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Vũ Linh |