- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Thu T đối với ông Đỗ Thanh B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 1236/2022/HNGĐ-ST Ngày: 27/7/2022 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Bùi Diệu Huệ
Ông Vương Tấn Độ
- Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Lệ – Là thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Vân– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số975/2021/TLST-HNGĐ, ngày 25/11/2021, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2022/QĐST-HNGĐ ngày 06/7/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu T. Năm sinh: 1979.
Địa chỉ thường trú: X đường L, Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ tạm trú: C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Đỗ Thanh B . Năm sinh: 1978.
Địa chỉ thường trú: F cư xá B, Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ tạm trú: C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn của bà Võ Thị Thu T và bản tự khai của đương sự tại Tòa án cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được xác định như sau:
Nguyên đơn bà Võ Thị Thu T trình bày: bà và ông B chung sống với nhau từ năm 2006, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 146, cấp ngày 18/12/2006 của Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long an
Trong cuộc sống gia đình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã do bất đồng quan điểm. Ông B thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu khuya làm ảnh hưởng đến vợ con, ngoài ra ông B còn không chung thuỷ và có những mối quan hệ với những người phụ nữ khác bên ngoài. Giữa hai bên vợ chồng tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay nhưng không thể nào hàn gắn tình cảm được. Trong thời gian bà nộp đơn ra Tòa ông B vẫn không có thái độ hợp tác, không lên Tòa để hòa giải, không có thiện chí để hàn gắn gia đình. Do đó, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà T yêu cầu ly hôn với ông B.
- Về con chung: Có 01 con chung là Đỗ Minh Q, sinh ngày: 14/8/2009. Bà T yêu cầu được nuôi trẻ Q, không yêu cầu ông B cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Ngày 10/01/2022 bà T đã có đơn xin rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng và đề nghị để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà T khai không có.
Bị đơn ông Đỗ Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do và không có văn bản ghi nhận ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa hôm nay, bà Võ Thị Thu T có đơn xin vắng mặt. Ông Đỗ Thanh B vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến và kết luận: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thẩm quyền, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Nhận thấy, mâu thuẫn giữa bà T và ông B ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2015, yêu cầu xin ly hôn của bà T là có cơ sở chấp nhận.Về con chung: bà T xác nhận bà và ông B có 01 con chung tên Đỗ Minh Q (sinh năm 2009), bà có yêu cầu được nuôi trẻ Q. Xét thấy, trẻ có nguyện vọng được ở với mẹ, ông B không có mặt nên không có ý kiến gì. Việc trẻ ở với mẹ sẽ đảm bảo cho sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, ổn định cuộc sống và học tập của trẻ. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ghi nhận sự tự nguyện về việc bà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện thì bà T yêu cầu chia đôi tài sản là căn nhà tại địa chỉ C, Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân. Tuy nhiên, sau đó bà có đơn xin rút yêu cầu chia tài sản. Xét thấy yêu cầu của bà T là tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Do đó, đề nghị HĐXX đình chỉ đối với yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng của bà T.
Về nợ chung và các nghĩa vụ dân sự khác: Bà T khai không có, ông B không có mặt, không có ý kiến gì nên không xem xét.
Từ phân tích trên, căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2015, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Thu T đối với ông Đỗ Thanh B, giao trẻ Đỗ Minh Q cho T trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đượcthẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Võ Thị Thu T và ông Đỗ Thanh B có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 146/GKH ngày 18/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, bà T có yêu cầu xin ly hôn với ông Bình nên đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy địnhtại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn là ông Đỗ Thanh B cư trú tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Võ Thị Thu T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn là ông Đỗ Thanh B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật, nhưng ông B vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Xét, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Đỗ Thanh B đến Tòa án để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, nhưng ông B vẫn vắng mặt không có lý do. Xem như bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình, nên bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì:“Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án.
Về nội dung: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 146/GKH ngày 18/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An cùng lời khai của bà T về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên có căn cứ xác định hôn nhân giữa bà T và ông B là hôn nhân hợp pháp.
- Xét yêu cầu của bà T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà T có yêu cầu ly hôn với ông B vì cả hai không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên bất đồng quan điểm, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Ông B thường xuyên tụ tập bạn bè ăn nhậu khuya làm ảnh hưởng đến vợ con, ngoài ra ông B còn không chung thuỷ và có những mối quan hệ với những người phụ nữ khác bên ngoài
Đối với ông Đỗ Thanh B, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đến Tòa để làm việc, nhưng ông B không đến Tòa và không có ý kiến gì về yêu cầu củabà T. Cho thấy ông B không còn quan tâm gì đến cuộc hôn nhân này và không có thiện chí hàn gắn gia đình. Điều này cho thấy, ông B đã từ bỏ quyền phản đối của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của bà T theo quy định tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những căn cứ trên cho thấy, mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông B đã diễn ra trầm trọng, không có khả năng hàn gắn gia đình, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà T yêu cầu được ly hôn với ông B là có căn cứ chấp nhận.
- Về con chung: Hai bên có 01 con chung tên Đỗ Minh Q, sinh ngày 14/8/2009, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi trẻ Q, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục các con chung là trách nhiệm của cả cha và mẹ. Tuy nhiên, trẻ Q còn nhỏ nên rất cần sự chăm sóc của người mẹ. Mặt khác, bà T có việc làm ổn định, có thời gian và khả năng tài chính đảm bảo việc nuôi con. Theo lời khai của trẻ Q cũng thể hiện trẻ có nguyện vọng muốn ở với mẹ nếu cha, mẹ ly hôn.
Căn cứ theo khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử giao trẻ Đỗ Minh Q cho bà T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
- Về cấp dưỡng nuôi con: ghi nhận sự tự nguyện củabà T không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Theo đơn khởi kiện, bà T yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là căn nhà tại địa chỉ sốC Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, ngày 10/01/2022 bà T có đơn xin rút yêu cầu về việc chia tài sản trên vì lý do để hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, việc rút yêu cầu về việc chia tài sản chung vợ chồng nêu trên là tự nguyện nênTòa án chấp nhận và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bàT về việc chia tài sản chung vợ chồng là căn nhà tại địa chỉ sốC Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về nợ chung: bà T tự khai không có.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận
Về án phí sơ thẩm: bà Võ Thị Thu T phải chịu theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Võ Thị Thu T đối với ông Đỗ Thanh B.
Giấy chứng nhận kết hôn số 146/GKH ngày 18/12/2006 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Phú, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An cấp cho bà Võ Thị Thu T và ông Đỗ Thanh B không còn giá trị pháp lý kể từ thời điểm bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: bà T và ông B có 01 con chung tên Đỗ Minh Q, sinh ngày 14/8/2009.
Giao trẻ Đỗ Minh Q cho bà T tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
4. Về tài sản chung: Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị ThuT về việc yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng là căn nhà tại địa chỉ số C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hậu quả của việc đình chỉ:Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Về nợ chung: bà T khai không có nên Tòa án không xem xét.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Võ Thị Thu T phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà T đã nộp theo biên lai thu số 0032932 ngày 25/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.
Hoàn lại cho bà Võ Thị Thu T số tiền tạm ứng án phí 41.000.000 đồng (Bốn mới mốt triệu đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0032931 ngày 25/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Các đương sự thi hành án tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
6. Quyền và thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương. Viện Kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: -VKSND quận Bình Tân; -Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; -Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân; -Các đương sự; -Nơi đăng ký kết hôn; -Lưu văn thư, hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2022 Tại Phòng nghị án Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Với Hội đồng xét xử sơ thẩm với thành phần gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Diệu Huệ 2. Ông Vương Tấn Độ 25/11/2021, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2022/QĐST- HNGĐ ngày 06/7/2022 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu T. Năm sinh: 1979. Địa chỉ thường trú: 147 Lò Siêu, Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Đỗ Thanh B. Năm sinh: 1978. Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. phiên tòa, các quy định của pháp luật: Hội đồng xét xử thảo luận và quyết định . . . /3 những vấn đề sau: án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nghị án kết thúc vào hồi.........giờ......... cùng ngày. và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Vào hồi giờ phút, ngày tháng năm 2022, Hội đồng xét xử sơ thẩm với thành phần gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Bùi Diệu Huệ 2.Ông Vương Tấn Độ. 25/11/2021, về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QĐXXST- HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 140/2022/QĐST- HNGĐ ngày 06/7/2022 giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu T. Năm sinh: 1979. Địa chỉ thường trú: 147 Lò Siêu, Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn: Ông Đỗ Thanh B. Năm sinh: 1978. Minh. Thành phố Hồ Chí Minh. Xét thấy bị đơn vắng mặt lần thứ nhất không rõ lý do. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3 về các vấn đề sau: Căn cứ Khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. ngày 25/11/2021, về việc: “Ly hôn” 2.Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà xét xử vụ án được ấn định như sau: năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh, địa chỉ số 422/1 đường Hồ Học Lãm, phường An Lạc, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Biên bản nghị án kết thúc vào lúc HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Tiến hành nghị án vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 975/2021/TLST-HNGĐ, ngày Địa chỉ tạm trú: 97/2C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Địa chỉ thường trú: F28 cư xá B, Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Địa chỉ tạm trú: 97/2C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe Lê Thị Tuyết CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Tại Phòng nghị án Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Tiến hành nghị án vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 975/2021/TLST-HNGĐ, ngày Địa chỉ tạm trú: 97/2C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Địa chỉ thường trú: F28 cư xá B, Bà Hom, Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Địa chỉ tạm trú: 97/2C Bình Trị Đông, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, 1. Hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 975/2021/TLST-HNGĐ, Phiên toà dân sự sơ thẩm sẽ được mở lại vào hồi 8 giờ 30 phút, ngày 27 tháng 7 giờ phút cùng ngày. THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tuyết |