vanban.org

Bản án 1235/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/09/2019 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Phương T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Phương T được ly hôn với ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T). Giấy chứng nhận kết hôn số 886, Quyển số 05 ngày 06/4/2015 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Phương T và ông Nguyen Xuan T không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Phương T - Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Phương T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1235/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 26/9/2019
V/v tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Cao

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nở

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Mai

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Thắng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 177/2018/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3848/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Phương T, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Địa chỉ: Phường 2, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T), sinh năm 1966 (vắng mặt).

Quốc tịch: Hà Lan.

Địa chỉ: EL HELMOND, Netherlands (Hà Lan).

Bà Trần Thị Phương T đã có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 20/3/2018 và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn là bà Trần Thị Phương T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T) kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 886, Quyển số 05 ngày 06/4/2015. Sau khi kết hôn, bà và ông T phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không cùng quan điểm sống, mỗi người tự lo kinh tế riêng, hôn nhân không hạnh phúc. Bà xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn Trần Thảo T, sinh ngày 19/10/2015. Hiện bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ T cho đến khi trẻ thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Vì bận việc, bà đề nghị được vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.

Bị đơn là ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T), trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo ngày, giờ và địa điểm mở phiên họp hòa giải, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án thông qua thủ tục ủy thác tư pháp đến Cơ quan có thẩm quyền của Hà Lan theo địa chỉ do nguyên đơn cung cấp. Đồng thời, yêu cầu ông T có văn bản gửi Tòa án trình bày ý kiến về việc bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn (theo văn bản ủy thác tư pháp số 553/TTTPDS-TA30 ngày 17/8/2018). Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có công văn đề nghị Cơ quan có thẩm quyền của Hà Lan thực hiện các công việc cần thiết để thực hiện ủy thác tư pháp theo quy định. Đến ngày mở phiên tòa như đã định tại thông báo gửi đương sự, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không nhận được văn bản thông báo về kết quả tống đạt cũng như lời khai, tài liệu, chứng cứ của đương sự ở nước ngoài và bị đơn vắng mặt, không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; Tòa án đã có văn bản đề nghị Bộ Tư pháp thông báo về việc thực hiện tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Nguyễn Xuân T (Công văn số 324/TATP-TGĐVNCTN ngày 07/6/2019) nhưng đến nay vẫn không có kết quả.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về địa vị tố tụng và đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Về nội dung, Kiểm sát viên phân tích yêu cầu của nguyên đơn xin ly hôn bị đơn và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét yêu cầu của nguyên đơn Trần Thị Phương T, Hội đồng xét xử nhận thấy bà T và ông T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nên đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét, giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Bị đơn Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T) hiện đang cư trú tại Hà Lan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự trong vụ án:

Nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, yêu cầu cung cấp bản khai, thông báo ngày, giờ, địa điểm xét xử nhưng đến thời điểm xét xử Tòa án vẫn không nhận được phản hồi của bị đơn. Vì vậy căn cứ quy định tại Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu của bà Trần Thị Phương T yêu cầu ly hôn ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T), Hội đồng xét xử xét thấy: Qua lời trình bày của bà T (bà T cam kết chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời khai của bà) thì bà và ông T chung sống không hạnh phúc. Từ khi kết hôn cho đến nay, bà T và ông T không có quá trình chung sống lâu dài. Do khoảng cách địa lý nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, hai bên chưa có sự gắn kết sâu đậm về tình cảm vợ chồng. Hiện nay bà T và ông T đang sinh sống ở hai nước khác nhau nên khả năng đoàn tụ không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà T yêu cầu ly hôn với ông T là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Có 01 con chung là trẻ Nguyễn Trần Thảo T, sinh ngày 19/10/2015. Hiện bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng trẻ T cho đến khi trẻ thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ T đã chung sống với bà T từ khi sinh ra cho đến nay, bà T khẳng định mình đủ khả năng kinh tế để nuôi con, không yêu cầu ông T có nghĩa vụ cấp dưỡng. Vì vậy để bảo đảm cuộc sống ổn định và điều kiện phát triển về mọi mặt cho trẻ T, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của bà T. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông T cho đến khi bà T có yêu cầu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà T ly hôn với ông T và đề nghị giao trẻ Nguyễn Trần Thảo T cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần Thị Phương T khai không có, Tòa án không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thị Phương T chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 121 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Phương T.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Phương T được ly hôn với ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T).

Giấy chứng nhận kết hôn số 886, Quyển số 05 ngày 06/4/2015 do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trần Thị Phương T và ông Nguyen Xuan T không còn giá trị pháp lý.

1.2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Trần Thảo T, sinh ngày 19/10/2015 cho bà Trần Thị Phương T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi trẻ thành niên.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T) cho đến khi bà T có yêu cầu.

Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được cản trở. Bà T có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung của ông T nếu ông T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì quyền lợi của con chung, khi có yêu cầu của cha, mẹ, người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và trẻ em hoặc Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

1.3. Về tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung: Bà Trần Thị Phương T khai không có, Tòa không xét.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đồng, bà Trần Thị Phương T chịu và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2017/0044265 ngày 17/4/2018 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.

3. Thi hành án tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Bà Trần Thị Phương T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án. Ông Nguyen Xuan T (Nguyễn Xuân T) được quyền kháng cáo trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ