vanban.org

Bản án 123/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 04/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn S. Cưỡng đoạt tài sản - phạm tội cưỡng đoạt tài sản (điều 170 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? luật T tụng hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự
T
N NH N N C N H
T NH L M N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 123/2025/HS-PT
Ng y: 04-8-2025

NHÂN DANH

N C C N H

H CH N H

T N M

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M NG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Thẩm phán:

Ông Hoàng Rung K’ Nhơn

Ông Nguyễn Công Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý s 87/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 đ i với bị c o Lê Văn S, do có kh ng c o của bị c o đ i với b n n hình sự sơ thẩm s 73/2025/HS-ST ng y 02/4/2025 của Tòa n nhân dân th nh ph Đ Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, Lâm Đồng)

* Bị cáo kháng cáo:

Họ v tên: Lê ăn S, sinh năm 1983; nơi sinh: Qu ng Nam; nơi đăng ký thường trú v cư trú: S 22/2 đường K, phường Cam Ly-Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng (Số 22/2 đường K, Phường 6, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng); nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn gi o: Không; qu c tịch: Việt Nam; con ông: Lê Thành Th; con bà: Nguyễn Thị S; vợ: Phạm Huyền Nh; con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính s 353/QĐ-XPHC ngày 15/5/2020 của Công an th nh ph Đ Lạt xử phạt Lê Văn S s tiền 1.750.000 đồng về h nh vi “Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng gây thương tích cho thành viên gia đình”. S đã nộp phạt ng y 20/5/2020.

Bị c o đang bị p dụng biện ph p ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Th nh Th, sinh năm 1981; chị Triệu Thị Trang Nh, sinh năm 1984; cùng cư trú tại: s 422 đường N, phường Lâm Viên – Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng (số 422 đường N, Phường A, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng). Có đơn xin xét xử vắng mặt.

N I DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Kho ng 17 giờ 30 phút ng y 23/8/2024, Lê Văn S điều khiển xe ô tô biển s 51C-159.29 đi từ vườn của gia đình tại Lộ 13, Kho nh 6, Tiểu khu 148A, Phường 7, th nh ph Đ Lạt, Lâm Đồng để về nh . Khi S đi đến khu vực su i nước ch y ngang đường c ch vườn của S kho ng 200m thì xe bị lầy không di chuyển được do c t, đất lún, đây l khu vực không có nhà dân xung quanh. Lúc này, anh Phạm Th nh Th v vợ l chị Triệu Thị Trang Nh điều khiển xe ô tô biển s 49A-548.87 đi ngang qua. Thấy xe ô tô của S bị lầy, anh Thắng có nói với S "có dây không đề phụ kéo xe lên" nhưng S từ ch i, S cho rằng do anh Thắng san lấp đất, l m hư hỏng su i dẫn tới việc xe ô tô của S bị lầy nên đã cãi nhau qua lại với anh Thắng. Do bực tức nên S lấy 02 (hai) thanh sắt d i kho ng 45cm (dụng cụ sửa xe) trong xe ô tô biển 51C-159.29 của S chạy tới đ nh nhiều c i từ trên xu ng dưới trúng v o đầu, mặt của anh Thắng gây thương tích. Thấy anh Thắng bị đ nh nên chị Nhung sử dụng điện thoại đi động, nhãn hiệu Iphone 12 Promax để quay lại sự việc S đ nh anh Thắng. ị S đ nh gây ch y m u nên anh Thắng ho ng sợ bỏ chạy v o trong xe ô tô biển s 49A-548.87 để tr n nhưng S vẫn tiếp tục cầm hung khí đe dọa anh Thắng nên anh Thắng điều khiển xe bỏ chạy. Sau khi anh Thắng bỏ chạy thì S nhìn thấy chị Nhung vẫn đang cầm điện thoại di động để quay video nên S dùng tay giật điện thoại trên tay của chị Nhung nhưng giật không trúng l m điện thoại rớt xu ng đất. Lúc n y, chị Nhung cúi người nhặt điện thoại thì S dùng tay ph i giật điện thoại của chị Nhung, tay trái S vẫn cầm 02 thanh sắt rồi quay lưng bỏ đi về phía rừng thông. ị S giật điện thoại nên chị Nhung đi theo kéo o của S và nói "trả lại điện thoại cho tôi", thì S không tr m tiếp tục đi nhanh v o rừng. Thời điểm n y, do trời t i, xung quanh không có người dân sinh s ng, đồng thời S đang cầm hung khí v vừa đ nh gây thương tích cho anh Thắng nên chị Nhung lo sợ sẽ tiếp tục bị S đ nh nên không đuổi theo S để đòi điện thoại nữa m đi bộ ra đường lớn đón xe về Công an phường 7, th nh ph Đ Lạt trình b o sự việc.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe ô tô biển s 51C-159.29, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

- 01 (một) xe ô tô biển s 49A-548.87, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, m u xanh, s m y: MG993LL/A; đã qua sử dụng.

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, m u đen, đã qua sử dụng.

- 01 (một) điếu c y bằng gỗ, m u v ng, d i kho ng 62cm, đường kính 5.3 cm, đã qua sử dụng.

- 01 (một) căn cước công dân s 049083014483, mang tên Lê Văn S.

- 01 (một) US hiệu Sandick, m u đen, dung lượng 16G , bên trong có đoạn video clip ghi lại sự việc x y ra ng y 23/8/2024.

- 01 (một) thanh sắt ng tròn d i kho ng 45cm v 01 (một) thanh sắt dẹp rộng 02cm, d i kho ng 40cm l hung khí S dùng để đ nh anh Thắng. S đã ném hung khí trên v o rừng nên Cơ quan CSĐT Công an th nh ph Đ Lạt không thu giữ được.

Ng y 04/10/2024, Cơ quan C nh s t điều tra Công an th nh ph Đ Lạt tiến h nh xử lý vật chứng, tr lại t i s n l 01 (một) xe ô tô biển s 49A-548.87 cho chị Nhung, chị Nhung đã nhận lại t i s n v không có yêu cầu gì thêm. Ng y 24/02/2025, Cơ quan C nh s t điều tra Công an th nh ph Đ Lạt tiến h nh xử lý vật chứng, tr lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, s máy: MG993LL/A; đã qua sử dụng cho chị Triệu Thị Trang Nh; tr lại 01 (một) điếu c y bằng gỗ, m u v ng, d i kho ng 62cm, đường kính 5.3cm, đã qua sử dụng cho anh Phạm Th nh Th; tr lại 01 (một) xe ô tô biển s 51C-159.29, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, m u đen, đã qua sử dụng, 01 (một) căn cước công dân s 049083014483, mang tên Lê Văn S cho Lê Văn S. Chị Nhung, anh Thắng v S đã nhận lại c c t i s n trên, không có yêu cầu gì thêm.

Bị hại: Anh Phạm Th nh Th, sinh năm: 1981; nơi cư trú: 422 Nguyên Tử Lực, Phường 8, thành ph Đ Lạt bị Lê Văn S dùng gậy sắt gây thương tích ở vùng đầu, mặt. Ng y 07/10/2024, anh Thắng có đơn yêu cầu xử lý hình sự đ i với Lê Văn S.

- Tại b n kết luận gi m định s : 580/KLGĐ-PYLĐ ng y 30 th ng 9 năm 2024 của Trung tâm ph p y tỉnh Lâm Đồng kết luận:

1. C c kết qu chính:

- Sẹo kích thước nhỏ tr n ph i.

- Sẹo kích thước nhỏ th i dương trái.

2. Kết luận:

- Căn cứ Thông tự s 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của ộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong gi m định ph p y, gi m định ph p y tâm thần, x c định:

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể từng thương tích của Phạm Th nh Th, tại thời điểm gi m định l :

+ Sẹo kích thước nhỏ tr n ph i l 03% (ba phần trăm)

+ Sẹo kích thước nhỏ th i dương tr i l 03% (ba phân trăm)

- Tổng tỷ lệ phần trăm t n thương cơ thể của Phạm Th nh Thăng, tại thời điểm gi m định l 6% (s u phần trăm), p dụng phương ph p cộng tại Thông tư.

- Kết luận kh c:

+ Tổn thương tr n ph i do vật sắc gây nên.

+ Tổn thương thái dương tr i do vật t y có cạnh gây nên.

Anh Phạm Th nh Th yêu cầu Lê Văn S bồi thường s tiền 300.000.000 đồng (bao gồm chi phí điều trị v tổn thất tinh thần, sức khỏe). Đến nay, bị c o S đã bồi thường được 50.000.000 đồng cho anh Thắng.

- Bị hại: chị Triệu Thị Trang Nh, sinh năm: 1984, nơi cư trú: s 422 đường Nguyên Tử Lực, Phường 8, thành ph Đ Lạt bị chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, đã qua sử dụng. Tại b n kết luận định gi t i s n s 17/HĐĐG ngày 03/10/2024 của Hội đồng định gi t i s n trong t tụng hình sự th nh ph Đ Lạt x c định chiếc điện thoại trên có trị giá 10.000.000đồng. Sau sự việc, chị Nhung đã nhận lại t i s n v không có yêu cầu gì về dân sự.

ị c o Lê Văn S th nh khẩn khai b o; ăn năn h i c i, tự nguyện bồi thường cho anh Thắng s tiền 50.000.000đồng, đây l c c tình tiết gi m nhẹ tr ch nhiệm hình sự cho bị c o.

Tại C o trạng s 87/CT-VKSĐL-LĐ ng y 12/3/2025 của Viện kiểm s t nhân dân thành ph Đ Lạt truy t bị cáo Lê Văn S về các tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a kho n 1 Điều 134 v tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại kho n 1 Điều 170 của ộ luật Hình sự.

Tại b n n hình sự sơ thẩm s 73/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Tòa n nhân dân th nh ph Đ Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, Lâm Đồng) đã xử;

1. Căn cứ điểm a, i kho n 1 Điều 134; kho n 1 Điều 170; điểm b kho n 1 Điều 51; Điều 38 ộ luật Hình sự;

Tuyên b bị c o Lê Văn S phạm c c tội “Cố ý gây thương tích” và “Cưỡng đoạt tài sản”.

Xử phạt bị c o Lê Văn S 15 (mười lăm) th ng tù về tội “Cố ý gây thương tích” và 24 (hai mươi bốn) th ng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 55 của ộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị c o Lê Văn S ph i chấp h nh hình phạt 39 (ba mươi chín) th ng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi h nh án.

2. Về tr ch nhiệm dân sự: căn cứ Điều 48 ộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 ộ luật dân sự: buộc bị c o Lê Văn S tiếp tục bồi thường khắc phục hậu qu cho người bị hại anh Thắng s tiền 49.947.880đ (bốn mươi chín triệu chín trăm bốn mươi bảy ngàn tám trăm tám mươi đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về n phí: căn cứ Điều 135, Điều 136 ộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết s 326/2016/U TVQH14 ng y 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội quy định về việc p dụng n phí, lệ phí Tòa n: buộc bị c o Lê Văn S ph i nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) n phí hình sự sơ thẩm v 2.497.394đ (hai triệu bốn trăm chín mươi bảy ngàn ba trăm chín mươi bốn đồng) n phí dân sự sơ thẩm.

4. Trong hạn 15 (mười lăm) ng y kể từ ng y tuyên n, bị c o, người bị hại có quyền kh ng c o để yêu cầu Tòa n nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2015.

Ng y 16/4/2025, bị c o Lê Văn S kh ng c o xin gi m nhẹ hình phạt và xin gi m mức bồi thường dân sự.

Ng y 21/7/2025, bị hại Phạm Th nh Th có đơn rút yêu cầu khỏi t vụ n về h nh vi C ý gây thương tích của bị c o.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị c o Lê Văn S khai nhận to n bộ h nh vi phạm tội như b n n hình sự sơ thẩm đã xét xử bị cáo và thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo; người bị hại Phạm Th nh Th vắng mặt và có đơn xin rút yêu cầu khởi t vụ n đ i với bị c o vì giữa bị hại với bị c o đã tự thỏa thuận bồi thường xong phần dân sự như n n sơ thẩm đã xét xử v xét thấy không cần thiết xử lý hình sự đ i với bị c o Lê Văn S nữa; ngoài ra không còn yêu cầu n o kh c.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị: Do người bị hại rút yêu cầu khởi t vụ án hình sự nên áp dụng kho n 2 Điều 155; Điều 359 của Bộ luật T tụng hình sự, Công văn s 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân t i cao hủy một phần b n n sơ thẩm, Tuyên b bị cáo không phạm tội “Cố ý gây thương tích” v đình chỉ gi i quyết về hành vi c ý gây thương tích.

Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; Điều 357 của ộ luật T tụng hình sự; chấp nhận kh ng c o của bị c o xin gi m nhẹ hình phạt về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; sửa b n án sơ thẩm, gi m cho bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù vì bị cáo đã bồi thường toàn bộ và hỗ trợ thêm cho bị hại, bị hại có đơn xin gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ỊNH C T

N:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ lời khai của bị c o, bị hại v c c t i liệu chứng cứ kh c có trong hồ sơ vụ n đã có đủ cơ sở x c định: Kho ng 18 giờ ng y 23/8/2024, tại gần khu vực vườn tại Lô 13, kho nh 6, tiểu khu 148A, phường 7, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng, bị c o Lê Văn S đã dùng 02 thanh sắt d i kho ng 45cm (01 thanh sắt tròn và 01 thanh sắt vuông 1cmx2cm) đ nh v o vùng đầu, mặt của anh Phạm Thành Th. Hậu qu , anh Phạm Th nh Th bị tổn thương cơ thể tại thời điểm gi m định l 06%.

ị hại ông Thắng có đơn yêu cầu khởi t vụ n, căn cứ v o c c t i liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ n; To n nhân dân cấp sơ thẩm đã tuyên b bị c o Nguyễn Hiếu phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a kho n 1 Điều 134 của ộ luật Hình sự l có căn cứ.

Ngay sau khi đ nh anh Thắng bỏ chạy thì S nhìn thấy chị Nhung vẫn đang cầm điện thoại di động để quay video nên S dùng tay giật điện thoại trên tay của chị Nhung nhưng giật không trúng l m điện thoại rớt xu ng đất. Lúc n y, chị Nhung cúi người nhặt điện thoại thì S dùng tay ph i giật điện thoại của chị Nhung, tay trái S vẫn cầm 02 thanh sắt rồi quay lưng bỏ đi về phía rừng thông. ị S giật điện thoại nên chị Nhung đi theo kéo o của S và nói "trả lại điện thoại cho tôi", thì S không tr m tiếp tục đi nhanh v o rừng. Do đó, h nh vi n y của bị c o S đã đủ yếu t cấu th nh tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 170 ộ luật Hình sự.

[2] Xét đơn kh ng c o của bị cáo gửi trong hạn luật định v đúng quy định nên được xem xét.

[2.1] Về h nh vi phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

H nh vi của bị c o l nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại được ph p luật b o vệ, gây nh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm minh phù hợp với tính chất, mức độ h nh vi bị c o gây ra như vậy mới có t c dụng riêng v phòng ngừa chung.

Tòa n cấp sơ thẩm tuyên b bị c o Lê Văn S phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm a kho n 1 Điều 134; điểm b, i, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 38 ộ luật Hình sự; xử phạt bị c o Lê Văn S 15 (mười lăm) th ng tù. Thời hạn chấp h nh hình phạt tù tính từ ng y bắt thi h nh n l có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng ph p luật.

Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại có đơn xin rút yêu cầu khởi t vụ n v trình b y rằng; bị c o Lê Văn S đã bồi thường to n bộ s tiền như b n n sơ thẩm đã tuyên v tự nguyện hỗ trợ thêm một kho n tiền, b n thân bị c o v bị hại l người quen biết nhau từ trước v thấy không cần thiết xử lý về hình sự đ i với bị c o Lê Văn S nên rút yêu cầu khởi t đ i với bị c o Lê Văn S. C c quyết định của b n n sơ thẩm l có căn cứ, đúng ph p luật nhưng việc người bị hại rút lại yêu cầu khởi t vụ n l tình tiết mới đ i với bị c o; như vậy đ i tượng xét xử l h nh vi bị xem l tội phạm không còn, nên cần hủy b n n sơ thẩm v đình chỉ vụ n đ i với bị c o Lê Văn S theo quy định tại kho n 2 Điều 155; Điều 359 của ộ luật T tụng Hình sự; Công văn s 254/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân t i cao như ý kiến của đại diện Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa hôm nay l phù hợp v đúng quy định của ph p luật.

Vụ n bị huỷ do bị hại rút yêu cầu khởi t vụ n, không ph i lỗi của Thẩm ph n v c c cơ quan tiến h nh t tụng, người tiến h nh t tụng; do vậy, nếu có thiệt hại x y ra bị c o Lê Văn S không có quyền yêu cầu bồi thường theo Luật tr ch nhiệm bồi thường của Nh nước.

[2.1] Về h nh vi phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị c o xin gi m nhẹ hình phạt, xin hưởng n treo; bị c o đã th nh khẩn khai b o, ăn năn h i c i về h nh vi phạm tội của b n thân nên được p dụng tình tiết gi m nhẹ theo điểm s kho n 1 Điều 51 ộ luật Hình sự v xuất trình biên b n thỏa thuận khắc phục hậu qu cho bị hại, sửa chữa điện thoại và hỗ trợ thêm cho bị hại Nhung và bị hại có đơn xin gi m nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên được áp dụng thêm tình tiết gi m nhẹ theo điểm b kho n 1, kho n 2 Điều 51 ộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội nhưng có nhiều tình tiết gi m nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 ộ luật Hình sự. Do vậy, chấp nhận kh ng c o của bị c o, sửa mức hình phạt của b n n sơ thẩm về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, áp dụng Điều 65 ộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Do bị c o v người bị hại khai nhận đã tự thỏa thuận bồi thường, nay không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét gi i quyết.

[4] Về n phí: Do hủy một phần b n n hình sự sơ thẩm v đình chỉ vụ n đ i với bị c o Lê Văn S về h nh vi “Cố ý gây thương tích” nên bị c o Lê Văn S không ph i chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Theo điểm b kho n 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội quy định: ị hại đã yêu cầu khởi t ph i chịu n phí hình sự sơ thẩm trong trường hợp vụ n được khởi t theo yêu cầu của bị hại, m sau đó Tòa n tuyên b bị cáo không có tội hoặc vụ n bị đình chỉ do người đã yêu cầu khởi t rút yêu cầu theo quy định của ộ luật T tụng hình sự; do vậy, bị hại Phạm Th nh Th ph i chịu 200.000đ n phí hình sự sơ thẩm.

Do kháng cáo được chấp nhận nên bị c o không ph i chịu n phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ỊNH:

1. Căn cứ kho n 2 Điều 155; Điều 359 của Bộ luật T tụng hình sự.

Tuyên hủy một phần n n hình sự sơ thẩm s 73/2025/HS-ST ngày 02/4/2025 của Tòa n nhân dân th nh ph Đ Lạt (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, Lâm Đồng) và chỉ gi i quyết đ i với bị cáo Lê Văn S bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Căn cứ điểm b kho n 1 Điều 355; điểm e kho n 1 Điều 357 của ộ luật T tụng hình sự.

Chấp nhận kh ng c o của bị c o Lê Văn S; sửa b n n sơ thẩm.

Tuyên b bị cáo Lê Văn S phạm tội“Cưỡng đoạt tài sản”.

Áp dụng kho n 1 Điều 170; điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 65 ộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Văn S 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (04/8/2025)

Giao bị c o Lê Văn S cho Uỷ ban nhân dân phường Cam Ly-Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng gi m s t, gi o dục. Gia đình bị c o có tr ch nhiệm ph i hợp cùng chính quyền địa phương trong việc gi m s t, gi o dục bị c o. Trong trường người được hưởng n treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của ph p luật thi h nh n hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Qu c hội về án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo Lê Văn S ph i chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Bị hại Phạm Văn Thắng ph i chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ