- Tranh chấp gì? án dân sự — "Lê Thị Ken tranh chấp hợp đồng mua bán với Võ Văn T"
- Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Võ Văn T
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG - Bản án số:123/DS-ST - Ngày 23 tháng 6 năm 2023 - V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GÒ CÔNG TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Trương
2. Bà Bùi Thu Hảo
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Thanh Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gò Công - Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị K, sinh năm 1957 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp 7, xã B X, thị xã G C, tỉnh Tiền Giang.
- Bị đơn: Ông Võ Văn T, sinh năm 1968 (Xin vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp 2, xã B X, thị xã G C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Lê Thị K trình bày: Ông T có mua thức ăn nuôi tôm của bà, hình thức gối đầu, khi ông T thu hoạch tôm xong sẽ trả tiền cho bà. Đến ngày 25/3/2017, ông T kết nợ còn nợ lại bà số tiền 150.000.000 đồng. Tháng 7/2022, ông T trả cho bà số tiền 40.000.000 đồng, còn lại 110.000.000 đồng đến nay không trả. Nay bà yêu cầu ông T trả cho bà số tiền mua thức ăn còn nợ là 110.000.000 đồng, yêu cầu trả ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
* Theo bản tự khai và trong quá trình tố tụng bị đơn ông Võ Văn T trình bày: Ông thừa nhận có mua thức ăn nuôi tôm của bà K, hình thức gối đầu, xong vụ tôm sẽ thanh toán tiền. Đến ngày 25/3/2017, bà K và ông kết nợ, ông còn nợ lại bà K số tiền 150.000.000 đồng. Tháng 7/2022, ông trả cho bà K số tiền 40.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 110.000.000 đồng đến nay không trả. Nay hoàn cảnh khó khăn, ông xin trả mỗi năm số tiền 25.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết:
Quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Lê Thị K với ông Võ Văn T, địa chỉ ấp 2, xã B X, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang là “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang.
Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K. Hội đồng xét xử xét thấy:
+ Về số tiền vay:
Tại phiên tòa, bà K yêu cầu ông T trả cho bà số tiền mua thức ăn còn nợ là 110.000.000 đồng ngay khi án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu trả lãi.
Tại bản tự khai và hòa giải, ông T thừa nhận có mua thức ăn chăn nuôi tôm của bà K và còn nợ lại bà số tiền 110.000.000 đồng.
Như vậy, căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Võ Văn T có mua thức ăn chăn nuôi tôm của bà Lê Thị K và còn nợ lại bà số tiền 110.000.000 đồng nên có nghĩa vụ trả cho bà K là có căn cứ.
+ Về thời gian trả nợ:
Ông Võ Văn T đã vi phạm thời gian trả nợ nên cần buộc ông T trả cho bà Lê Thị K số tiền 110.000.000 đồng khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu của bà Lê Thị K là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
+ Về án phí:
Ông Võ Văn T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K được chấp nhận toàn bộ nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 430, Điều 440, Điều 468 Bộ luật dân sự
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị K.
Buộc ông Võ Văn T có nghĩa vụ trả cho bà Lê Thị K số tiền mua bán thức ăn còn nợ là 110.000.000 đồng (Một trăm mười triệu đồng).
Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2/ Về án phí: Ông Võ Văn T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 5.500.000 đồng (Năm triệu năm trăm nghìn đồng).
3/ Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Võ Văn T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh TG; - VKSND TXGC; - C.C THADS TXGC; - Các đương sự; - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN THỊ BÍCH LIỄU |