vanban.org

Bản án 123/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - An Giang , tỉnh An Giang Tuyên án 15/09/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về điều luật áp dụng và tội danh: 1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn K phạm tội trộm cắp tài sản - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2026/HS-ST
Ngày 15-9-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Chiến

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hải

Bà Lê Thị Thuý Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 3 - An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2026, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 - An Giang, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2026, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 350/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh ngày 15/8/2003; Giới tính: Nam.

Nơi cư trú: Số 12/4 M, phường R, tỉnh A; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1976; Vợ con: Chưa có.

Tiền án: Không

Tiền sự: Vào năm 2023 bị cáo bị Tòa án nhân dân H1ện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang (nay là Toà án nhân dân Khu vực 3 – An Giang) áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 (mười tám) tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo Quyết định số: 48/2023/QĐ-TA ngày 29/11/2023.

Về nhân thân: Vào năm 2022 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1 – An Giang) xử phạt 06 (sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án hình sự sơ thẩm số: 199/2022-HS-ST ngày 07/7/2022. Tuy nhiên, tại thời điểm bị cáo phạm tội vẫn chưa thành niên nên theo Luật tư pháp người chưa thành niên bị cáo được coi là không có án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2026 cho đến nay.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh An Giang. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Ngô Ngọc Th1, sinh năm 1977

Địa chỉ: Tổ 11, ấp H, xã B, tỉnh A (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977 (vắng mặt)

2/ Ông Huỳnh Hữu H, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Cùng trú tại: ấp H, xã B, tỉnh A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/5/2026 Nguyễn Văn K và Lê Ngọc H1 rủ nhau đi trộm cắp xe máy bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân. Trước khi đi H1 chuẩn bị và mang theo 02 cây đoản bẻ khóa, 01 cây chìa khoán 8 dùng để bắt vào đầu cây đoản bẻ khóa xe và 01 cây dao có lưỡi bằng kim loại dài khoảng 30cm (việc này K không biết). K và H1 đi bộ theo tuyến lộ nông thôn để kiểm xe lấy trộm, khi đến khu vực Miếu Bà thuộc ấp Hòa Thuận, xã Bình An, tỉnh An Giang thì phát hiện có 01 chiếc xe môtô, hiệu Honda, loại Wave RSX, biển đăng ký số 68C1-236.57 của anh Ngô Ngọc Th1 đang đậu cặp lộ không ai trông coi, anh Th1 ở ngoài ruộng cách đó khoảng 300m. K đứng canh đường còn H1 đi đến chỗ chiếc xe đang đậu móc từ trong túi ra 01 cây đoản bẻ khóa và chìa khóa 8 đút vào ổ khóa xe rồi bẻ khóa thì bị anh Th1 phát hiện la lên, K và H1 bỏ chạy về về hướng Miếu Bà được khoảng 300m. Lúc này ông Nguyễn Văn T1 và ông Huỳnh Văn H ở gần đó điều khiển xe môtô cùng với anh Th1 đuổi theo thì bị H1 dùng cây dao đem theo trong người chém một nhát trúng vào bắp tay trái của ông H làm xe bị ngã. Thấy vậy ông T1 xông vào bắt H1 thì bị H1 dùng dao chém trúng tay phải, tay trái và vùng trán trái của ông T1, ông H xông tới đạp H1 ngã xuống sông rồi cùng người dân xung quanh khống chế K và H1 giao Công an xã Bình An.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 05 ngày 29/5/2026 của Hội đồng thẩm định giá tài sản – UBND xã Bình An, tỉnh An Giang kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ đen, biển số đăng ký 68C1-236.57, số máy JA32E-0058658, số khung 3221EY0585550, đăng ký lần đầu ngày 24/8/2025 có giá là 8.166.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số: 1643 ngày 03/6/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận mẫu nước tiểu gửi giám định của Nguyễn Văn K: Mẫu ký hiệu M gửi đến giám định có thành phần chất ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 87/CT-VKSAGG-KV3 ngày 03/9/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – An Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo với tội danh nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận về quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – An Giang.

Bị cáo được nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NH ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi bị truy tố của bị cáo HĐXX nhận thấy: Vào khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 25/5/2026 Nguyễn Văn K và Lê Ngọc H1 đã thực hiện hành vi trộm chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Wave RSX mang biển số kiểm soát 68C1-236.57 của ông Ngô Ngọc Th1 tại ấp Hoà Thuận, xã Bình An, tỉnh An Giang. Theo kết quả định giá tài sản thì chiếc xe bị lấy trộm có giá trị 8.166.000 đồng.

Lời khai của bị cáo phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Đối chiếu theo quy định pháp luật thì hành vi của bị cáo Nguyễn Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức rõ lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và bị xử lý trách nhiệm hình sự vì bị cáo đã 01 lần bị xử phạt 06 tháng tù về hành vi này. Lẻ ra, bị cáo phải lấy đó làm bài học để sửa đổi bản thân nhưng với bản chất tham lam, lười lao động chỉ muốn hưởng thụ nên bị cáo vẫn cứ dấn thân vào con đường phạm tội cũng với hành vi trộm cắp, đều này cho thấy bị cáo vẫn chưa biết ăn năn hối cải. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại mà còn tạo tâm lý bất an cho người dân làm cho họ không an tâm lao động công tác sản xuất nên hành vi này phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để cân nhắc hình phạt khi lượng hình là có căn cứ pháp luật.

[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, khung hình phạt cũng như việc áp dụng các điều luật để xử lý vụ án là có căn cứ pháp luật nên HĐXX ghi nhận để xem xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra bị hại ông Ngô Ngọc Th1 đã được nhận lại tài sản bị mất. Tại phiên toà ông Th1 có đơn xin xét xử vắng mặt và trong đơn ông P thể hiện rõ ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[8] Về đánh giá vật chứng, xử lý vật chứng:

8.1 Đối với chiếc xe môtô hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ-đen, biển đăng ký 68C1-236.57, số máy JA32E-0058658, số khung 3221EY0585550, đã qua sử dụng, trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã xử lý trả cho bị hại ông Ngô Ngọc Th1 là đúng quy định pháp luật nên HĐXX không xem xét.

8.2 Đối với 01 cây dao có lưỡi bằng kim loại, 01 cạnh sắc dài 28cm, nơi rộng nhất 6,2cm, phần tay cầm bằng gỗ dài 11,5cm có quấn băng keo màu đen; 01 dụng cụ kim loại (cờ lê) dài 11,5cm, một đầu hình chữ U nơi rộng nhất 1,8cm và một đầu hình tròn đường kính 1,3cm; 01 đoạn kim loại dài 5,9cm, nơi rộng nhất 0,9cm, một đầu có quấn băng keo màu đen dài 2cm; 01 đoạn kim loại dài 6,6cm, nơi rộng nhất 0,9cm, một đầu có quấn băng keo màu đen dài 3cm, đã thu giữ trong vụ án. Đây là công cụ mà Lê Ngọc H1 sử dụng để phạm tội, do trong quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách vụ án để xử lý H1 theo quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên. Do đó, HĐXX sẽ không xem xét xử lý trong vụ án này mà để các vật chứng trên phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với H1 là phù hợp.

[9] Về các vấn đề khác:

9.1 Đối với Lê Ngọc H1 đã có hành vi trộm cắp chiếc xe môtô biển đăng ký 68C1-236.57 của ông Ngô Ngọc Th1 cùng với bị cáo K, đồng thời H1 còn có hành vi dùng dao gây thương tích cho ông Nguyễn Văn T1 và ông Huỳnh Văn H. Tuy nhiên, do tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội H1 chưa đủ 18 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã khởi tố H1 về các tội “Trộm cắp tài sản”, “Cố ý gây thương tích” và “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” đồng thời tách vụ án để xử lý theo quy định của Luật tư pháp người chưa thành niên nên HĐXX không xem xét trong vụ án này.

9.2 Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn K: Sau khi chấp hành xong biện pháp cai nghiện bắt buộc, K không về trình diện tại địa phương. Uỷ ban nhân dân phường Rạch Giá, tỉnh An Giang không lập hồ sơ quản lý sau cai nghiện nên không có đủ căn cứ để xem xét xử lý K về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng quy định.

9.3 Trong quá trình điều tra, K và Lê Ngọc H1 trình bày: Khi H1 thuê nhà ở nhà nghỉ “Danh Nam” thuộc khu phố Rạch Sỏi 1, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang để ở thì tại đây K và H1 có tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và thực hiện thêm 01 vụ trộm cắp xe môtô, nhãn hiệu Novo màu đen (không rõ biển số) tại quán lẩu cầy “Lão Đại” thuộc khu phố Rạch Sỏi 1, phường Rạch Giá, tỉnh An Giang nhưng chưa xác định được bị hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã có công văn trao đổi, phối hợp với Công an phường Rạch Giá để giải quyết theo thẩm quyền nên HĐXX không xem xét.

[10] Về án phí: Xử buộc bị cáo phải có nghĩa vụ nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về điều luật áp dụng và tội danh:

1.1 Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025.

1.2 Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/5/2026.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Xử buộc bị cáo Nguyễn Văn K phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ