vanban.org

Bản án 123/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Quỳnh N.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Quỳnh N được ly hôn với ông Trần Văn Hữu T. 2/ Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 cho bà Lê Quỳnh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Ông Trần Văn Hữu T không phải cấp dưỡng cho con. Dành quyền, nghĩa vụ t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Quỳnh N.
  • Căn cứ chính? Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 6 - 2026
V/v Ly hôn và tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Thái Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Tăng Thị Bạch Vân.

Ông Trần Hoàng Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Nhặn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ, Tòa án nhân dân khu vực 10 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 154/2026/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 323/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Quỳnh N, sinh ngày 13/4/2002 – CCCD số 0793XX; Nơi cư trú: Số P, đường Q, Phường T, thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Trần Văn Hữu T, sinh ngày 06/06/1991 – CCCD số 0940YY; Nơi cư trú: Số nhà S, ấp X, xã N, thành phố Cần Thơ; (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/4/2026 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Quỳnh N trình bày:

Bà Lê Quỳnh N và ông Trần Văn Hữu T quen biết nhau, có tình cảm và được gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2022, vợ chồng bà Lê Quỳnh N đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phường M, Quận G, thành phố Hồ Chí Minh (nay là UBND xã AH, thành phố Hồ Chí Minh) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 23/2022, cấp ngày: 09/02/2022. Trong quá trình chung sống vợ chồng có con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 hiện nay các con đang sống chung với bà Lê Quỳnh N tại Số P, đường Q, Phường T, thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian đầu vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Tuy nhiên, gần dây vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Nhận thấy đời sống hôn nhân giữa bà Lê Quỳnh N và chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Lê Quỳnh N yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

- Về hôn nhân: Bà Lê Quỳnh N yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn Hữu T.

- Về con chung: Bà Lê Quỳnh N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 đến khi thành niên và không yêu cầu ông Trần Văn Hữu T phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà Lê Quỳnh N xác định không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà Lê Quỳnh N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà Lê Quỳnh N đã nộp các tài liệu, chứng cứ sau:

+ Căn cước công dân mang tên Lê Quỳnh N (chứng thực);

+ Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2022 do UBND xã B cấp ngày: 09/02/2022.

+ Giấy khai sinh mang con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 (bản sao)

Bên cạnh đó, bà Lê Quỳnh N đã có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng cũng như hỗ trợ cho nguyên đơn trong việc gửi các tài liệu chứng cứ cho ông Trần Văn Hữu T. Nhưng ông Trần Văn Hữu T thường xuyên không có mặt tại nhà và không có người nhận thay các văn bản tố tụng. Do đó việc cấp tống đạt các văn bản tố tụng được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 177 và Điều 179 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên ông Trần Văn Hữu T không có văn bản trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án theo giấy triệu tập.

Tại phiên tòa hôm nay,

* Nguyên đơn bà Lê Quỳnh N vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt trong đó vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Trần Văn Hữu T; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 đến khi thành niên và không yêu cầu ông Trần Văn Hữu T phải cấp dưỡng cho con. Bà Lê Quỳnh N xác định không yêu cầu giải quyết thêm vấn đề gì.

* Bị đơn ông Trần Văn Hữu T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn, giao con chưa thành niên cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn không phải cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét. Ngoài ra còn buộc bà Lê Quỳnh N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện lập ngày 07/4/2026, bà Lê Quỳnh N yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với ông Trần Văn Hữu T có nơi cư trú tại Số nhà S, ấp X, xã N, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực, Hội đồng xét xử xác định việc Tòa án nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ thụ lý, giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm là đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền giải quyết vụ án.

Về xét xử vắng mặt đối với đương sự: Nguyên đơn bà Lê Quỳnh N vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Trần Văn Hữu T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 3 Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Lê Quỳnh N, ông Trần Văn Hữu T.

Xét yêu cầu của Nguyên đơn bà Lê Quỳnh N về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Quỳnh N cùng ông Trần Văn Hữu T tự nguyện kết hôn và tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 23/2022 do UBND Phường 12 cấp ngày: 09/02/2022. Theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Quỳnh N và ông Trần Văn Hữu T là hợp pháp.

Theo trình bày của bà Lê Quỳnh N: Sau khi kết hôn vợ chồng bà Lê Quỳnh N ông Trần Văn Hữu T chung sống hạnh phúc một thời gian. Theo bà Lê Quỳnh N xác định nguyên nhân dẫn đến việc vợ chồng phát sinh mâu thuẫn đến nay không thể hàn gắn được do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung và bà Lê Quỳnh N, ông Trần Văn Hữu T đã sống ly thân. Bên cạnh đó bà Lê Quỳnh N không muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông Trần Văn Hữu T, cũng như bà đã có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và ông Trần Văn Hữu T vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy Tòa án không tổ chức được phiên hòa giải trước khi xét xử cũng như hòa giải tại phiên tòa để các bên hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Quỳnh N cho bà Lê Quỳnh N được ly hôn với ông Trần Văn Hữu T.

Về con chung: Bà Lê Quỳnh N xác định thời gian chung sống, vợ chồng bà Lê Quỳnh N và ông Trần Văn Hữu T có con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 do bà Lê Quỳnh N đang trực tiếp nuôi dưỡng nội dung này cũng hoàn toàn phù hợp với giấy khai sinh mà nguyên đơn đã giao nộp thể hiện là con chung của vợ chồng.

Xét ý kiến của bà Lê Quỳnh N về việc bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 hiện nay đang được bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Vấn đề này Hội đồng xét xử thấy rằng, cháu Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 cũng đã trình bày nguyện vọng được sống cùng với mẹ. Giữa nguyên đơn và bị đơn cũng không thỏa thuận được về vấn đề nuôi con chung. Bà Lê Quỳnh N đã xác định đủ điều kiện trực tiếp nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 giao cháu Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 cho bà Lê Quỳnh N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện nay bà Lê Quỳnh N không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Bên cạnh đó ông Trần Văn Hữu T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo Điều 82 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về tài sản chung: Bà Lê Quỳnh N xác định không tranh chấp do đã thỏa thuận xong và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Lê Quỳnh N xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do đó trong vụ án ly hôn nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Vì vậy bà Lê Quỳnh N chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án ly hôn là 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, bà Lê Quỳnh N, ông Trần Văn Hữu T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Cần Thơ phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 3 Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.

- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Quỳnh N.

1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Quỳnh N được ly hôn với ông Trần Văn Hữu T.

2/ Về con chung: Giao con chung tên Trần Ngọc N.Y.1, sinh ngày 25/12/2021 cho bà Lê Quỳnh N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Ông Trần Văn Hữu T không phải cấp dưỡng cho con. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung cho ông Trần Văn Hữu T mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung: Bà Lê Quỳnh N xác định không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4/ Về nợ chung: Bà Lê Quỳnh N không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

5/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Quỳnh N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006773, ngày 13/4/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Như vậy bà Lê Quỳnh N đã thực hiện xong. Ông Trần Văn Hữu T không phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

6/ Về quyền kháng cáo: Bà Lê Quỳnh N, ông Trần Văn Hữu T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ