vanban.org

Bản án 123/2026/DS-ST — Tranh chấp về bảo hiểm

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể: Buộc Công ty Cổ phần HHDD phải bồi thường thiệt hại do tàu ĐP giao thiếu hàng cho Tổng Công ty BHBV số tiền là 414.203.564 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười bốn triệu, hai trăm linh ba ngàn năm trăm sáu mươi tư đồng). Thời hạn thanh toán: Trong thời hạn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 173 Bộ luật hàng hải
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:123/2026/DS-ST
Ngày: 30/6/2026
V/v: Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tuyết Lan

Bà Lê Thị Phương Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Hưng - thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hà Nội

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Hà Nội: không tham gia phiên toà.

Ngày 30 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hà Nội xét xử công khai vụ án Kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 68/2026/TLST-KDTM ngày 05/11/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 274/2026/QĐXX-ST ngày 26/5/2026; Quyết định hoãn phiên toà số 233/2026/QĐST – KDTM ngày 18/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Hà Nội, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Tổng Công ty BHBV;

Trụ sở: Số 7 LTK, phường CN, Thành phố HN.

Đại diện theo pháp luật: Ông ĐVT – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà ĐPA, bà ĐTD và ông BBTA theo Giấy ủy quyền số 8327/UQ-BHBV ngày 25/06/2026. (Bà ĐPA có mặt)

- Bị đơn: Công ty Cổ phần HHDD;

Địa chỉ: Tầng 9, tháp VPQT HB, HQV, phường NĐ, Thành phố HN

Đại diện theo pháp luật: Ông BNT – Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông NCD – Trưởng phòng khai thác tàu biển. (Theo Giấy ủy quyền số 02/GUQ-DDM ngày 11/12/2025). Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần XNK PB MT.

Địa chỉ: 77 CT, phường TA, tỉnh ĐL.

Đại diện theo pháp luật: Ông NHL – Giám đốc. (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa Đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn – bà ĐPA trình bày:

Ngày 25/10/2021, Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu phân bón MT (viết tắt là Công ty MT) tham gia bảo hiểm hàng hóa tại BHBV (viết tắt là BHBV) cho lô hàng 6.000 tấn phân bón NPK theo đơn bảo hiểm số 5399641. Lô hàng thuộc đơn vận tải số TOMA20220201B vận chuyển trên tàu ĐP đi từ cảng Yeosu, South Korea (Hàn Quốc) từ ngày 17/02/2022 về cảng Quy Nhơn, Việt Nam.

Ngày 26/02/2022, tàu cập cảng Quy Nhơn an toàn và BHBV đã mời đơn vị giám định là Công ty TNHH Thương mại tư vấn và giám định NB (Nabicontrol) tiến hành giám định mớn nước lần đầu, kết quả ghi nhận như sau: Tàu chở cùng lúc 02 loại hàng nên việc giám định mớn nước trước và sau khi dỡ hàng chỉ xác định được tổng khối lượng hàng dỡ từ tàu mà không thể xác định khối lượng hàng cho từng loại. Đại diện phía Nabicontrol sau đó đã gửi kháng thư về tình trạng nêu trên và yêu cầu phía chủ tàu ĐP đưa ra phương án để xác định được khối lượng hàng của từng loại. Tuy nhiên, phía chủ tàu từ chối ký kháng thư và không đưa ra phương án để xác định khối lượng của từng loại hàng.

Ngày 02/03/2022, tàu ĐP kết thúc dỡ hàng và ghi nhận kết quả thực dỡ hàng hóa thiếu 67,70 tấn phân bón NPK.

Ngày 08/03/2022, Nabicontrol phát hành Chứng thư giám định số 22028/GD-S. Bằng phương pháp giám định khối lượng tại cảng, Nabicontrol kết luận về nguyên nhân và mức độ tổn thất cụ thể như sau:

- Mức độ tổn thất:

K/L theo

K/L dỡ tại

K/L (thừa/thiếu)

Loại

B/L

cảng

B/L

hàng

(tấn)

(tấn)

+/- (tấn) TOMA20220201B

NPK

6.000,00

5.932,30

- 67,70

Thiếu so với vận đơn số TOMA20220201B: (A) – (B) = 67,70 tấn tịnh

(Tỷ lệ thiếu 1.128%)

- Nguyên nhân tổn thất: Căn cứ vào kết quả giám định thực tế tại hiện trường và tham khảo các tài liệu liên quan, xác định khối lượng hàng NPK 16-16-8 dạng rời thực nhận từ tàu ĐP của Công ty Cổ phần XNK PB MT thiếu 67,70 tấn tịnh so với vận đơn số TOMA20220201B do tàu ĐP giao thiếu hàng.

Trên cơ sở hồ sơ vụ việc, quy tắc bảo hiểm và Hợp đồng bảo hiểm, BHBV đã giải quyết bồi thường cho tổn thất thiếu hàng trong vụ việc với tổng giá trị tổn thất là 637.236.253 VNĐ (Bằng chữ: Sáu trăm ba mươi bảy triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi ba Việt Nam đồng) cho Công ty MT, đồng thời nhận thế quyền từ Công ty MT để truy đòi người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ngày 28/12/2022, BHBV đã có Công văn số 6248/BHBV-GĐBTHH gửi Công ty Cổ phần HHDD (viết tắt là Công ty DD) là chủ tàu ĐP, yêu cầu bồi hoàn tổn thất hàng hóa trên tàu ĐP .

Ngày 22/02/2023, BHBV nhận được Công văn số 14a/KTTB của Công ty DD với nội dung đồng ý các bên sẽ giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải. Tính tới thời điểm hiện tại, BHBV vẫn chưa nhận được đề xuất, ý kiến tiếp theo của phía Công ty DD.

Vì vậy, Tổng Công ty BHBV khởi kiện, đề nghị Toà án giải quyết những yêu cầu sau:

Buộc Công ty Cổ phần HHDD bồi hoàn cho BHBV số tiền là 637.236.253 VNĐ (Bằng chữ: Sáu trăm ba mươi bảy triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi ba Việt Nam đồng) là số tiền tương đương với giá trị thiệt hại trong vụ việc mà BHBV đã chi trả cho Công ty Cổ phần XNK PB MT và nhận thế quyền.

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa Đại diện theo ủy quyền của Bị đơn - Công ty CP HHDD - ông NCD trình bày:

Quá trình giải quyết, Công ty DD trình bày: Căn cứ vào Vận đơn số TOMA20220201B ngày 17/02/2022, Bảng quyết toán tổng hợp hàng hoá ngày 04/3/2022 và Chứng thư giám định số 22028/GD-S ngày 08/3/2022 do Công ty TNHH Thương mại tư vấn và giám định NB (Nabicontrol) thể hiện hàng bị giao thiếu 67,70 tấn. Quá trình giải quyết vụ án, Công ty DD cho rằng: Khi tàu cập bến cảng giỡ hàng theo 02 phương án khác nhau là xà lan và xe tải. Khi chuyển hàng từ tàu xuống, hàng hoá sẽ được xác định khối lượng theo cả 02 cách là bằng mớn nước đối với xà lan và cân đối với xe tải qua cảng. Về cách thức xác định và khối lượng hàng qua mạn tầu hoàn toàn do chủ hàng đưa ra. Về nguyên tắc khi giao hàng tại Cảng thì chủ tàu phải ký bàn giao. Vì việc xác định khối lượng giao nhận hàng hoá chỉ cho chủ hàng và bên giám định thực hiện, đại diện chủ tàu không ký xác nhận. Do vậy, BHBV và Công ty Cổ phần XNK PB MT cho rằng nguyên nhân giao thiếu hàng là do tàu ĐP là chưa có cơ sở.

Đối với yêu cầu khởi kiện của BHBV, Công ty Hải DD đề nghị cùng BHBV hoà giải, thương lượng để có phương án giải quyết dứt điểm vụ án.

Tại Bản tự khai, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan - Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu phân bón MT trình bày:

Ngày 19/10/2021, Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu phân bón MT (MT) và Kolon Global Corporatine đã ký kết Hợp đồng mua bán phân bón NPK 16-16-8 (NPK MT 16-16-8) tổng khối lượng là: 6.000 Tấn. Lô hàng thuộc đơn vận tải Số TOMA20220201B vận chuyển trên tàu DONG PHU (thuộc Công ty Cổ phần HHDD) đi từ cảng Yeosu, South Korea từ ngày 17/02/2022 về cảng Quy Nhơn, Việt Nam.

Ngày 25/10/2021, chúng tôi đã tham gia Bảo hiểm hàng hóa tại BHBV cho lôhàng 6.000 tấn phân bón NPK theo đơn bảo hiểm số 5399641.

Sau khi tàu DONG PHU cập cảng Quy Nhơn, BHBV đã mời đơn vị giám định là Công ty TNHH Thương mại tư vấn và giám định NB (Nabicontrol) tiến hành giám định. Tại chứng thư giám định số QN-22001/GĐ-HH ngày 09/03/2022 thể hiện: khối lượng hàng NPK 16 -16 -8 dạng rời thực nhận từ tàu DONG PHU thiếu 67,70 tấn tịnh so với vận đợn số TOMA20220202B. Nguyên nhân là do Tàu DONG PHU giao thiếu hàng.

Do đó, theo quy tắc bảo hiểm và Hợp đồng bảo hiểm, BHBV đã giải quyết bồi thường cho tổn thất thiếu hàng cho chúng tôi trong vụ việc với tổng giá trị tổn thất là: 637.236.253 VNĐ (Bằng chữ: Sáu trăm ba mươi bảy triệu hai trăm ba mươi sáu nghìn hai trăm năm mươi ba Việt Nam đồng) và đồng thời nhận thế quyền để truy đòi người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại là Công ty DD.

Quá trình giải quyết, Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu phân bón MT có đơn xin vắng mặt trong tất cả các giai đoạn tố tụng.

Quá trình giải quyết, Công ty BV Đắc Lắk trình bày: Công ty BV Đắc Lắk có ký HĐBH số TCT.ĐHH.HH.18.HD01 ngày 01/3/2018 với Công ty MT. Ngày 25/10/2021, Công ty MT tham gia bảo hiểm hàng hoá tại BHBV cho lô hàng 6000 tấn phân bón NPK theo đơn bảo hiểm số 5399641. Lô hàng thuộc đơn vận tải số TOMA20220201B vận chuyển trên tàu ĐP đi từ cảng Yeosu, South Korea (Hàn Quốc) từ ngày 17/02/2022 về cảng Quy Nhơn, Việt Nam. Ngày 26/02/2022, tàu cập cảng Quy Nhơn và dỡ hàng ghi nhận kết quả thực dỡ hàng hoá thiếu 67,7 tấn phân bón NPK. Trên cơ sở vụ việc, BHBV đã bồi thường tổn thất thiếu hàng với tổng giá trị tổn thất là 637.236.253 đồng. Công ty BV Đắc Lắk là Công ty hạch toán phụ thuộc của Tổng công ty BHBV, là đơn vị kinh doanh không có tư cách pháp nhân, hạch toán phụ thuộc và nằm trong cơ cấu của Tổng công ty. Do vậy, Công ty BV Đắc Lắk không đủ điều kiện tham gia phiên toà và đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và Bị đơn đã thoả thuận cụ thể như sau: Công ty Cổ phần HHDD bồi thường cho BHBV giá trị thiệt hại do tàu ĐP giao hàng bị thiếu là 414.203.564 đồng (tương đương 65% của tổng giá trị thiệt hại mà BHBV đã bồi thường cho Công ty MT). Thời hạn thanh toán trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Công ty CP HHDD nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Về án phí các bên thoả thuận mỗi bên chịu ½ án phí.

Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa,lời trình bày của đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:

Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp Hợp đồng bảo hiểm. Công ty Cổ phần HHDD có địa chỉ tại Tầng 9, tháp VPQT HB, HQV, phường NĐ, Thành phố HN Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân khu vực 4 – Hà Nội theo quy định tại theo quy định tại khoản 5 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Quá trình giải quyết, Công ty MT có đơn xin vắng mặt tại các buổi hoà giải và tại phiên toà. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Nội dung khởi kiện: Xét Hợp đồng bảo hiểm số: TCT.DBHH.HH.18.HD01 ngày 01/3/2018, Đơn bảo hiểm số: 5399641 ngày 25/10/2021 và Sửa đổi bổ sung số 2743644 ngày 22/02/2022 Hội đồng xét xử nhận thấy về hình thức hợp đồng đều do người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự tham gia ký kết, tuân thủ đầy đủ các quy định tại Điều 17; Điều 19 và Điều 134 Bộ luật luật Dân sự và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

Căn cứ Hợp đồng vận chuyển hàng hoá, Chứng thư giám định số 22028/GD-S ngày 08/03/2022 do Công ty TNHH Thương mại tư vấn và giám định NB (Nabicontrol) phát hành xác định: khối lượng hàng hoá bị giao thiếu 67,70 tấn tịnh (tương đương tỉ lệ 1,128%) so với Vận đơn số TOMA20220201B ngày 17/02/2022. Xác định nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu hàng là do tàu ĐP giao thiếu hàng.

Ngày 25/10/2021, Công ty MT tham gia bảo hiểm hàng hoá tại BHBV cho lô hàng 6.000 tấn phân bón NPK theo đơn bảo hiểm số 5399641. Do thiếu hàng nên Công ty BHBV Đắk Lắk đã bồi thường 637.236.253 đồng cho Công ty MT và Công ty MT đã nhận và thế quyền để yêu cầu Công ty Cổ phần HHDD hoàn trả 637.236.253 đồng tiền bảo hiểm đền bù cho Tổng Công ty BHBV.

Vì vậy, Tổng Công ty BHBV khởi kiện Công ty Cổ phần HHDD, buộc Công ty CP HHDD phải bồi thường 637.236.253 đồng tiền bảo hiểm đền bù là có căn cứ.

Tuy nhiên, tại phiên toà các bên đã thoả thuận: Công ty CP HHDD phải bồi thường cho BHBV số tiền 414.203.564 đồng do tàu ĐP giao thiếu hàng. Thời hạn thanh toán: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Công ty Cổ phần HHDD nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Xét thấy sự thoả thuận của các bên là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội cần ghi nhận sự thoả thuận này.

Về án phí: BHBV và Công ty Cổ phần HHDD thoả thuận mỗi bên phải chịu ½ án phí kinh doanh thương mại, nên cần chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147, Điều 246; khoản 2 Điều 227, các Điều 228,244,271,273,278,280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Điều 405,406 Bộ luật dân sự; Điều 49 Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 173 Bộ luật hàng hải;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể:

Buộc Công ty Cổ phần HHDD phải bồi thường thiệt hại do tàu ĐP giao thiếu hàng cho Tổng Công ty BHBV số tiền là 414.203.564 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm mười bốn triệu, hai trăm linh ba ngàn năm trăm sáu mươi tư đồng). Thời hạn thanh toán: Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày Công ty Cổ phần HHDD nhận được bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí:

Công ty Cổ phần HHDD phải chịu 10.284.000 đồng (mười triệu hai trăm tám mươi tư ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại.

Tổng Công ty BHBV phải chịu 10.284.000 đồng (mười triệu hai trăm tám mươi tư ngàn đồng) án phí kinh doanh thương mại. Tổng Công ty BHBV đã nộp số tiền tạm ứng án phí 14.000.000 đồng theo Biên lai số 0014014 ngày 29/10/2025. Hoàn trả Tổng Công ty BHBV 3.716.000 đồng (ba triệu bảy trăm mười sáu ngàn đồng).

3. Án xử công khai sơ thẩm, Tổng Công ty BHBV và Công ty Cổ phần HHDD có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty Cổ phần XNK PB MT có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ