vanban.org

Bản án 123/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H ly hôn.

Về con chung: Xử giao cháu Trương Thị Như Y1, sinh ngày 15/9/2013 (theo nguyện vọng của cháu Y1) và Trương Mộng Y2, sinh ngày 09/9/2019 cho chị Trần Thị Út M chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng muôi con. Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị M và a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRẦN THỊ ÚT M - TRƯƠNG QUỐC H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2024
“V/v ly hôn và nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN-TỈNH KIÊN GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1- Ông Hà Minh Hằng.

2- Bà Nguyễn Thanh Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tăng Thị Điền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang: Bà Lai Thị Ngọc Thuý - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 251/2024/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 166/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Út M, sinh ngày 15/12/1990 (có mặt).

2- Bị đơn: Anh Trương Quốc H, sinh năm 1979 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 03/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Trần Thị Út M trình bày và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H kết hôn với nhau năm 2010, có tổ chức lễ cưới theo phong tục ở địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Vợ chồng chung sống đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thiếu tôn trọng lẫn nhau nên thường xuyên cự cải, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên chị yêu cầu xin ly hôn với anh Trương Quốc H.

Về con chung: Có 02 người con tên Trương Thị Như Y1, sinh ngày 15/9/2013 và Trương Mộng Y2, sinh ngày 09/9/2019, hiện đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu nuôi 02 người con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Đối với bị đơn anh Trương Quốc H Tòa án đã tống đạt hợp lệ gồm: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị Trần Thị Út M.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Trần Thị Út M vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu như sau:

Về hôn nhân: Chị yêu cầu ly hôn với anh Trương Quốc H.

Về con chung: Chị yêu cầu nuôi 02 người con tên Trương Thị Như Y1, sinh ngày 15/9/2013 và Trương Mộng Y2, sinh ngày 09/9/2019, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị thừa nhận không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quan điểm của đại viện Viện kiểm sát:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, của Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tuân thủ và chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

Về giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Ghi nhận yêu cầu của chị Trần Thị Út M xử cho chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H được ly hôn.

Về con chung: Ghi nhận yêu cầu của chị Trần Thị Út M xử giao con tên Trương Thị Như Y1, sinh ngày 15/9/2013 (theo nguyện vọng của cháu Y1) và Trương Mộng Y2, sinh ngày 09/9/2019 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng muôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Út M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền xét xử: Đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con và bị đơn trong vụ án có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Căn cứ khoản 1 Điều 28 điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử là đúng thẩm quyền.

Về thủ tục tố tụng: Đối với anh Trương Quốc H được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với anh Trương Quốc H.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H kết hôn với nhau năm 2010 và có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang nên hôn nhân của chị M và anh H là hợp pháp.

Về mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên thường xuyên cự cãi nhau, làm cho hạnh phúc gia đình không còn nữa, từ đó vợ chồng đã ly thân cho đến nay, trong thời gian vợ chồng ly thân anh chị và gia định cũng không tự hoà giải với nhau được.

Từ đó, xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Út M xử cho chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H ly hôn là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H có 02 người con tên Trương Thị Như Y1, sinh ngày 15/9/2013 và Trương Mộng Y2, sinh ngày 09/9/2019, khi ly hôn chị M yêu cầu được nuôi 02 người con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của chị M là có cơ sở chấp nhận. Bởi vì, từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng các cháu, cuộc sống của các cháu hiện nay cũng ổn định và bản thân chị M cũng có điều kiện để nuôi con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, xử giao cháu Trương Thị Như Y1 (theo nguyện vọng của cháu Y1) và Trương Mộng Y2 cho chị M chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Út M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Út M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Vậy chị M đã nộp đủ tiền án phí.

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận, như đã nhận định nêu trên.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Út M và anh Trương Quốc H ly hôn.

2.Về con chung: Xử giao cháu Trương Thị Như Y1, sinh ngày 15/9/2013 (theo nguyện vọng của cháu Y1) và Trương Mộng Y2, sinh ngày 09/9/2019 cho chị Trần Thị Út M chăm sóc, nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng muôi con.

Anh H có quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết chị M và anh H có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Út M thừa nhận không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị Út M phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng), theo lai thu số: 0003308 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang. Vậy chị M đã nộp đủ tiền án phí.

5. Báo quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị M biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (13/9//2024). Đối với anh H vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ