vanban.org

Bản án 123/2024/HC-ST — Hành chính

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 07/08/2024 Hành chính Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tùng P về việc:

Hủy Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N. Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Yêu cầu cấp nhật sang tên trên GCNQSD đất"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tùng P về việc:
  • Căn cứ chính? Điều 95 Luật Đất đai; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 158 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2024/HC-ST
Ngày: 07-8-2024
V/v khiếu kiện quyết định hành chính về
quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thu Thảo;

2. Bà Thanh Thị Minh Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Phạm Xảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2024/TLST-HC ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HC ngày 19 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

,

- Người khởi kiện: Ông Ngô Tùng P, sinh năm 1993 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

- Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B

Địa chỉ: Khu dân cư B, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Giám đốc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: D T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

+ Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bình Thuận.

Địa chỉ: C T, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T - Giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đ (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

+ Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1991 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: thôn M, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện ông Ngô Tùng P trình bày:

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, ông Ngô Tùng P cùng vợ là bà Nguyễn Thị Thanh N có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Nguyễn Đức T1 và bà Dương Thị P1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 16/3/2021 được Văn Phòng công chứng Trương Văn C chứng thực số 1884, Quyển số: 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 387697, số vào sổ cấp GCN: CS00939 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/12/2015, cập nhật biến động ngày 08/01/2016 và ngày 19/3/2019 đối với thửa đất số 112; tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Sau khi nhận chuyển nhượng thì ông P, bà N đã nộp hồ sơ theo biên nhận số 1253/BPTNTKQ đề nghị Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện việc đăng ký biến động sang tên do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định pháp luật.

Tuy nhiên vào ngày 15/8/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N. Lý do chuyển trả: “Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn của ông, bà có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất nông nghiệp và đất giao thông) theo bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt”.

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông P, bà N đối với thửa đất nêu trên chưa có quyết định thông báo thu hồi đất, đất không bị tranh chấp và đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì người sử dụng đất được thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật; trong đó có quyền chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Việc Chi nhánh Văn phòng Đ không thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của ông P, bà N là làm hạn chế quyền của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông, bà.

Do đó, ông P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Hủy Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N.

2. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do nhận chuyển nhượng của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 387697 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/12/2015, cập nhật biến động ngày 08/01/2016 và ngày 19/3/2019 theo quy định của pháp luật,

* Tại văn bản số 1853/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 18/6/2024, người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B trình bày: Thống nhất theo văn bản số 5335/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 13/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ.

* Tại văn bản số 5335/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 13/6/2024 và quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng Đ trình bày:

Ngày 17/3/2021, Chi nhánh Văn phòng Đ có tiếp nhận hồ sơ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N tại biên nhận số 1253/BPTNTKQ.

Ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ bà Dương Thị P1 và ông Nguyễn Đức T1 đối với thửa đất số 112, tờ bản đồ số 8, diện tích 298,3m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 387697 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17/12/2015 cho bà Lê Thị T2, cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thanh T3 ngày 08/01/2016, cập nhật biến động chuyển nhượng cho bà Dương Thị P1 ngày 19/3/2019.

Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 112, tờ bản đồ số 8 có nguồn gốc do UBND thành phố P cho phép bà Lê Thị T2 được chuyển mục đích sử dụng đất theo Quyết định số 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B.

Do đó, Chi nhánh Văn phòng thực hiện theo nội dung chỉ đạo tại Thông báo số 387/TB-UBND ngày 02/7/2020 của UBND thành phố P, Chi nhánh Văn phòng đã có công văn số 4046/CNVPĐKĐĐPT ngày 20/7/2020 về việc xin ý kiến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh liên quan đến đất chuyển mục đích trước đây chưa đảm bảo theo quy định. Đến ngày 03/9/2020, Chi nhánh Văn phòng nhận được văn bản phúc đáp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh số 1981/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 31/8/2020 có ý kiến như sau: “Liên quan đến nội dung vướng mắc của Chi nhánh văn phòng Đ, UBND thành phố P đã có báo cáo số 275/BC-UBND ngày 04/8/2020 báo cáo UBND tỉnh về tình hình thực hiện và khắc phục các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trật tự xây dựng theo Kết luận Thanh tra số 1696KL-UBND ngày 16/5/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh B.

Sau khi UBND tỉnh có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc theo đề xuất của UBND thành phố P thì thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh”

Đồng thời, ngày 22/3/2023, Chi nhánh Văn phòng có công văn số 2120/CNVPĐKĐĐPT gửi đến Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B và UBND thành phố P về việc báo cáo xin ý kiến chỉ đạo liên quan đến chuyển mục đích sai quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B (nằm ngoài danh sách 132 trường hợp).

Tại thời điểm giải quyết hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng vẫn chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 15/8/2023, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh V thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.

Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh B có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở T tại Công văn Số 5523/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023, có nêu: "...2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tụ rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở T."

Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh B, hiện nay UBND thành phố P đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.

* Quá trình giải quyết vụ án, tại văn bản số 4211/UBND-KSTTHC ngày 28/6/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:

Thửa đất mà ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N đăng ký biến động quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 112, tờ bản đồ số 8, diện tích 298,3m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Giấy chúng nhận) số BQ 387697 do Sở T cấp ngày 17/12/2015 cho bà Lê Thị T2 có nguồn gốc từ thửa đất số 977 tờ bản đồ số 02, diện tích 300,0m2, đất trồng cây lâu năm, thời hạn sử dụng đất đến tháng 5/2007 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 484440 do UBND thành phố P cấp ngày 05/10/2005 cho bà Lê Thị T2. Ngày 30/11/2015, Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật chỉnh lý diện tích thửa đất đo đạc lại là 298,3m2.

Ngày 16/6/2015, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 355/QĐ-UBND cho phép bà Lê Thị T2 chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở tại nông thôn với diện tích 298,3m2 và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi Giấy chứng nhận số BQ 387697 ngày 17/12/2015. Bà Lê Thị T2 tặng cho ông Nguyễn Thanh T3 và được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật chỉnh lý ngày 08/01/2016. Ông Nguyễn Thanh T3 chuyển nhượng cho bà Dương Thị P1 và được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật chỉnh lý ngày 19/03/2019.

- Về thông tin quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất:

Do Quyết định số 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của UBND thành phố P và Giấy chứng nhận số BQ 387697 ngày 17/12/2015 nêu trên không thể hiện tọa độ địa chính nên UBND thành phố P đã trích xuất thửa đất số 112, tờ bản đồ số 8 (bản đồ 92) để đối chiếu với:

+ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử đụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất giao thông.

+ Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 của thành phố P đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 136/QĐ-UBND ngày 14/01/2015 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất giao thông.

Căn cứ điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P cho phép bà Lê Thị T2 được chuyển mục đích sử dụng đất từ đất trồng cây lâu đất ở tại nông thông tại Quyết định 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất được cấp thẩm quyền phê duyệt là không đúng quy định của pháp luật.

Ngày 15/8/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N. Do đó, đối với nội dung mà của ông Ngô Tùng P yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1263/TB- CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ nêu trên và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P vì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị trực thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B.

UBND thành phố P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xem xét giải quyết vụ án theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình đối thoại, các đương sự không thống nhất về toàn bộ vấn đề, đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:

+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật tố tụng hành chính.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Ngô Tùng P, hủy Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N và buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người khởi kiện, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B, Chi nhánh Văn phòng Đ, Ủy ban nhân dân thành phố P, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B được Tòa án triệu tập hợp lệ, các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa và đều có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 158 Luật Tố tụng hành chính.

Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:

Ông Ngô Tùng P khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N và buộc Chi nhánh Văn phòng Đ, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất cho ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N theo đúng quy định pháp luật đối với thửa đất số 112, tờ bản đồ số 08, diện tích 298,3m2 tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BQ 387697 do Sở T cấp ngày 17/12/2015.

Căn cứ Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính, đây là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

Về tư cách tham gia tố tụng:

Theo Điểm e khoản 2 Điều 3 của Thông tư liên tịch số 15/2015/TTLT-BTNMT-BNV-BTC ngày 04 tháng 04 năm 2015 của Bộ T4 - Bộ N1 - Bộ T5 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của văn phòng đăng ký đất đai trực thuộc Sở T thì Chi nhánh Văn phòng Đ là đơn vị hạch toán phụ thuộc, thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng đăng ký đất đai. Như vậy, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai không có tư cách pháp nhân. Tòa án xác định Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B là người bị kiện.

Về thời hiệu khởi kiện:

Ngày 15/4/2024, ông Ngô Tùng P làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N và buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố P, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông P là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tùng P, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Diện tích đất có nguồn gốc do bà Lê Thị T2 được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 484440 ngày 05/10/2005 đối với thửa đất số 977, tờ bản đồ số 02, diện tích 300m2 đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Đến ngày 30/11/2015, Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý diện tích đo đạc lại là 298,3m2.

Ngày 17/12/2015, bà Lê Thị T2 cấp đổi thành thửa đất số 112, tờ bản đồ số 08, diện tích 298,3m2 đất ở tại nông thôn được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BQ 387697 theo Quyết định số 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.

Sau đó, bà Lê Thị T2 tặng cho ông Nguyễn Thanh T3, được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động vào ngày 08/01/2016. Ông Nguyễn Thanh T3 chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Dương Thị P1, được Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động vào ngày 19/3/2019.

Ngày 16/3/2021, bà Dương Thị P1 cùng chồng bà là ông Nguyễn Đức T1 chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng thửa đất số 112 nêu trên cho ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1884, quyển số 02/2021TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1.

Theo Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N thì việc trả hồ sơ đăng ký biến động là do vị trí thửa đất 112 có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp với quy hoạch đất ở theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh B đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Hội đồng xét xử nhận thấy, trên cơ sở của Quyết định cho chuyển mục đích số 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P, bà Lê Thị T2 được chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm thành đất ở tại nông thôn đối với diện tích 298,3m2 thuộc thửa đất số 977, tờ bản đồ số 02, bà T2 đã thực hiện nghĩa vụ tài chính và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất BQ 387697 ngày 17/12/2015 mang tên bà Lê Thị T2.

Mặc dù, tại văn bản số 4211/UBND-NC ngày 28/6/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố P có ý kiến gửi cho Tòa án về nội dung khởi kiện của ông Ngô Tùng P cho rằng căn cứ vào Điều 52 Luật đất đai năm 2013 việc UBND thành phố P cho chuyển mục đích đất sang đất ở nông thôn tại Quyết định cho chuyển mục đích số 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P là không phù hợp với quy hoạch, Kế hoạch sử dụng đất và không đúng quy định của pháp luật. Đến thời điểm hiện nay, Quyết định cho chuyển mục đích số 355/QĐ-UBND ngày 16/6/2015 của Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn còn hiệu lực chưa bị cơ quan nào hủy bỏ hoặc xác định việc cho chuyển mục đích quyền sử dụng đất trên là không đúng quy định của pháp luật hoặc ban hành văn bản hủy bỏ, thu hồi về việc cho chuyển mục đích trái pháp luật và thửa đất số 112 nêu trên cũng không nằm trong danh sách đất bị ngăn chặn, cấm chuyển nhượng của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Như vậy, bà Dương Thị P1 và ông Nguyễn Đức T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật Đất đai và việc ông Ngô Tùng P, bà Nguyễn Thị Thanh N nhận quyền sử dụng đất cũng không thuộc trường hợp không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 191 của Luật Đất đai.

Do đó, việc bà Dương Thị P1 và ông Nguyễn Đức T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N là thuộc trường hợp bắt buộc phải đăng ký biến động đất đai theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 95 của Luật Đất đai.

Việc Chi nhánh Văn phòng Đ ban hành thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N nhưng không viện dẫn được căn cứ pháp lý nào để không thực hiện việc đăng ký biến động đất đai cho ông Ngô Tùng P, bà Nguyễn Thị Thanh N làm ảnh hưởng quyền lợi của ông P, bà N.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tùng P là có căn cứ nên chấp nhận, cũng như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tùng P nên Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Ông Ngô Tùng P không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điều 30; khoản 3 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; khoản 1 Điều 158; điểm b khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính;

- Khoản 1 và khoản 4 Điều 95; Điều 168; Điều 191 của Luật Đất đai;

- Điều 60, Điều 61, Điều 79 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

- Khoản 2 Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Tùng P về việc:

- Hủy Thông báo số 1263/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đ về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của ông Ngô Tùng P và bà Nguyễn Thị Thanh N.

- Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B và Chi nhánh Văn phòng Đ thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí:

Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B phải chịu 300.000đồng án phí hành chính sơ thẩm.

Hoàn trả cho ông Ngô Tùng P số tiền 300.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000253 ngày 03/5/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.

3. Đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được nhận bản án hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ