- Tranh chấp gì? án hình sự — "T.V.H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo T.V.H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2023/HS-ST Ngày 03/08/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đức Lưu
2. Ông Nguyễn Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Ngọc Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 08 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến tại Điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực tuyến - Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam số I - Công an thành phố Hà Nội, vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 07 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2023/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 07 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: T.V.H; Sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn A, xã Yên Tâm, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là: T.V.P (sinh năm 1966); Mẹ là: T.T.L (sinh năm 1972).
* Nhân thân: 01 tiền án
- Tại Bản án số 06/2020/HS-ST ngày 13/02/2020 của Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ra trại ngày 21/09/2020. (Đã được xóa án tích)
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/05/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an thành phố Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Anh B.V.P, sinh năm 1987; Địa chỉ: Tổ dân phố số 1 phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
(Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 07/5/2023, T.V.H bắt xe bus từ bến xe Giáp Bát đến khu vực chợ Long Biên, phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội mục đích đi lang thang tìm cơ hội để trộm cắp tài sản.
Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 08/05/2023, H đi bộ qua đoạn ngõ 44 phố Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội, thì phát hiện thấy chiếc xe máy Honda Wave màu đen mang BKS: 18D1-4xx.xx của anh B.V.P, không khóa cổ, không khóa càng, dựng sát tường nhà số B ngõ 44 Phúc Xá. Quan sát xung quanh không có người trông giữ, H đã lấy xe, dắt bộ đi đến khu vực cuối ngõ 32 Phúc Xá, phường Phúc Xá, Ba Đình, Hà Nội bị thì Công an phường Phúc Xá kiểm tra, phát hiện cùng tang vật và đưa về trụ sở Công an phường Phúc Xá để làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 màu trắng; số sim: 089xxxxx10; Imei1: 3544xxxxxxxx642.
- 01 (một) xe máy Honda Wave BKS: 18D1 – 4xx.xx; số khung: 3909HYxxxxx3; số máy: JA39Exxxxx3; màu đen.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 62/KLĐG-HĐĐGTS ngày 12/05/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận Ba Đình kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 18D1 – 4xx.xx, SM: A39Exxxxx3, SK: 3909HYxxxxx3 đã qua sử dụng, có giá trị: 5.000.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, T.V.H khai nhận hành vi phạm tội.
Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 18D1-4xx.xx, SM: A39Exxxxx3, SK: 3909HYxxxxx3 cho anh B.V.P. Anh B.V.P đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì về dân sự.
Tại Bản cáo trạng số 107/CT-VKS ngày 11 tháng 07 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo T.V.H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên toà, Bị cáo T.V.H khai nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình luận tội giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt bị cáo T.V.H từ 10 - 15 tháng tù. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 màu trắng; số sim: 089xxxxx10; Imei1: 3544xxxxxxxx642 do không liên quan đến hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 01h00’ ngày 08/05/2023, tại ngõ 4 phố Phúc Xá, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, Hà Nội, bị cáo T.V.H đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS: 18D1 – 4xx.xx. Tài sản thuộc sở hữu của anh B.V.P, trị giá: 5.000.000 đồng. đã được trả cho người bị hại.
Hành vi của bị cáo T.V.H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Toà án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số, nên cho được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh B.V.P đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.
Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo T.V.H 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 màu trắng; số sim: 089xxxxx10; Imei1: 3544xxxxxxxx642 do không liên quan đến việc phạm tội.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo T.V.H phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Điều 106; Điều 298; Điều 299; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2016:
+ Xử phạt: T.V.H 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/05/2023.
* Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo T.V.H 01 (một) điện thoại di động Iphone 6 màu trắng; số sim: 089xxxxx10; Imei1: 3544xxxxxxxx642 (đã qua sử dụng).
Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 163 ngày 18/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ./.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND.TP. Hà Nội; - VKSND quận Ba Đình; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình; - UBND xã nơi bị cáo cư trú; - Sở Tư pháp TP. Hà Nội; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thu Phương |