vanban.org

Bản án 123/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

Chi cục THADS huyện Yên Thành; TAND tỉnh Nghệ An; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN THÀNH
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29-11-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Xuân Thọ - Thẩm phán. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Thanh và ông Nguyễn Hữu Tường.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 475/2023/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 15 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu P, sinh năm 1989; nơi cư trú: Xóm 6, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt)

- Bị đơn: Chị Vũ Thị V, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm 6, xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Hữu P trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị V đăng ký kết hôn vào ngày 27/10/2014 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y. Trước khi đăng ký kết hôn hai bên có tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau, không ai, lừa dối, ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xẩy ra mâu thuẫn cho đến nay. Nguyên nhân: Chị V sống không chung thủy, quan hệ ngoại tình với người khác, anh khuyên bảo nhưng không nghe dẫn dến vợ chồng xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau. Đến năm 2020 thì vợ chồng sống ly thân cắt mọi quan hệ với nhau. Sự việc xẩy ra đã được hai gia đình hòa giải nhưng không thành. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, Anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn.

- Về con chung: Anh P và chị V có 02 con là Nguyễn Hữu Bảo L, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hữu P, sinh ngày 23/11/2018. Hiện nay Anh đang nuôi dưỡng 02 con chung. Các con khỏe mạnh. Nếu ly hôn Anh P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị V cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định. [1]Về tố tụng: Bị đơn chị Vũ Thị V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ phiên hòa giải lần thứ 2 mà vẫn cố tỉnh vắng mặt nên Tòa án lập biên bản không tiến hành hòa giải được, theo khoản 2 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Vũ Thị V đã được tống đạt hợp lệ quyết định hoãn phiên tòa, giấy triệu tập phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: [2] Về Hôn nhân: Anh Nguyễn Hữu P và chị Vũ Thị V được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59/2014, quyển số 01/2014, ngày 27 tháng 10 năm 2014, thủ tục, điều kiện kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì xẩy ra mâu thuẫn và đến năm 2020 vợ chồng sống ly thân cắt mọi quan hệ tình cảm cho đến nay, nguyên nhân: Chị V sống không chung thủy, đi sống chung với người khác. Ủy ban nhân dân xã Viên Thành đã xác nhận tình trạng hôn nhân và con chung của vợ chồng. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã vận động thuyết phục anh P rút đơn về đoàn tụ gia đình nhưng anh Phát không chấp nhận. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của anh P đã thỏa mãn những căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đủ cơ sở chấp nhận cho ly hôn. [3] Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Nguyễn Hữu Bảo L, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hữu P, sinh ngày 23/11/2018. Hiện nay anh P đang nuôi dưỡng 02 con chung. Các con khỏe mạnh. Anh P có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay anh P đang nuôi 02 con chung, chị V đi sống chung với người khác và không có trách nhiệm đối với các con. Anh P làm nghề buôn bán có thu nhập có đủ điều kiện nuôi con và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung. Để ổn định cuộc sống và bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của các cháu. Vì vậy cần giao anh P tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung Nguyễn Hữu Bảo L và Nguyễn Hữu P là phù hợp với Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh P không yêu cầu chị V cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về chia tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh P không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí: Anh Nguyễn Hữu P phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Hữu P. 1.Về Hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hữu P và chị Vũ Thị V. 2.Về nuôi con: Giao 02 con là Nguyễn Hữu Bảo L, sinh ngày 26/01/2016 và Nguyễn Hữu P, sinh ngày 23/11/2018 cho anh Nguyễn Hữu P tiếp tục, trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi thành niên. Chị Vinh có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh P, chị V có quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, thay đổi người trực tiếp nuôi con trên cơ sở lợi ích của con. 3. Án phí: Anh Nguyễn Hữu P phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng ) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0001180 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Anh Nguyễn Hữu P đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ